/Lẽ đời thấu hết nông sâu. Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy./ Thơ Võ Văn Trực

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Về thơ văn TNT

NGƯỜI ĐI “CÔNG CHỨNG THỜI GIAN”

Gặp Tô Ngọc Thạch lần đầu tưởng anh là người khó gần bởi nét mặt nghiêm nghiêm, vầng trán cao vút,
 
NGƯỜI ĐI  “CÔNG CHỨNG THỜI GIAN”
(Đọc tập thơ song ngữ “Công chứng thời gian” cuat Tô Ngọc Thạch)
CAO NĂM
 
        Gặp Tô Ngọc Thạch lần đầu tưởng anh là người khó gần bởi nét mặt nghiêm nghiêm, vầng trán cao vút, trên đầu mái tóc lưa thưa nên lúc nào anh cũng đội mũ để che đi cái trán hói của mình. Nhưng đến khi đọc thơ, rồi văn xuôi và cả tiểu luận, phê bình của anh nữa, mới thấy Tô Ngọc Thạch là người dễ gần, dễ rung cảm. Thì đây, hẳn là trong một lần về quê, hay đã nung nấu từ bao giờ, rồi tứ thơ trong anh mới bật ra: “Trời nhả lửa vào miền quê êm ả.../Mỗi nhịp tay đưa không va vào máng mà rợn cả hàm răng…/Người đàn bà vấn lại giấc mơ gồng mình vét từng giọt nước/Chị múc mặt trời hoà với mặt trăng chắt bòn từ phong ba bão táp/Múc cả bóng mình hiu hắt tưới cho cánh đồng xanh lại quê hương” (Thơ vớt ra từ chiếc gầu múc nước). Quả là những câu thơ chỉ có thể xuất hiện với một tâm hồn dễ xúc cảm, nhưng không bồng bột mà trầm lắng, chắt lọc đến từng âm thanh, sắc màu mới có thể nghe được tiếng gầu sòng múc nước không va vào thành máng mà vẫn kêu lên những tiếng nghe “rợn cả hàm răng”.
        Thơ Tô Ngọc Thạch là thế, không chỉ ở tập này mà đâu đó đã lúc ẩn lúc hiện trong 5 tập thơ trước, nhưng đến tập thứ 6: “Công chứng thời gian”- NXB Hội Nhà văn  qúy 4/213, thì càng rõ rệt và tách bạch hơn. Tập thơ gồm 27 bài của nhà thơ Tô Ngọc Thạch sáng tác trong thời gian gần đây và do nhà thơ, dịch giả Thiếu Khanh chuyển ngữ sang tiếng Anh. Dịch giả Thiếu Khanh là người có hơn 30 năm nay dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, hoặc ngược lại, với hơn 20 đầu sách và đã xuất bản một số tập thơ.
 
        Cũng muốn nói thêm, Tô Ngọc Thạch có thời gian dài sống, học tập và làm việc tại Liên Xô (cũ), nhưng có lẽ ít ai như anh về nước đã lâu mà vẫn giữ được mối quan hệ thân thiết không chỉ với bạn bè người Việt hiện bên đó, mà cả những người bạn thời Liên Xô cũ. Thế nên năm ngoái, NXB Thế giới đã ấn hành tập thơ song ngữ Nga -Việt “Nắng bạch dương” , gồm 54 bài của 17 nhà thơ Nga từ A. Puskin, M. Lermontop, F. Tyuchev đến những người hiện đang chiếm lĩnh thi đàn Nga như Nh. Dinoviev, V. Korgiov, T.Baimunduzova... do nhà thơ Tô Ngọc Thạch chuyển ngữ sang tiếng Việt, được dư luận chú ý. Còn lần này, tập “Công chứng thời gian” cũng là thơ song ngữ, với 27 bài thơ của nhà thơ Tô Ngọc Thạch  được dịch giả Thiếu Khanh chuyển ngữ sang tiếng Anh, với thiết kế bìa khá đẹp và sang trọng của Anatolia Vodoleev họa sĩ người Nga, bạn của Tô Ngọc Thạch.
        Trở lại với tập thơ song ngữ Việt- Anh “Công chứng thời gian”. Tập thơ được chia làm hai phần và được đặt tên riêng. Phần đầu là “Dấu ấn xứ người”, đúng với tên gọi của cái tít, đây là 10 bài thơ anh viết về những nơi mình có dịp đã từng qua, như “Phố Bắc Kinh” (Quảng Châu), “Một phản biện về Nữ Thần tự do” (Hoa Kỳ), “Bến mơ thiên niên kỷ” (Pháp - Anh), hoặc đã từng sống và làm việc nay có dịp trở lại như “Xibia đồng hành” (Nga)…Nhìn chung phần này viết phóng khoáng và kết hợp khá nhuyễn lối bày tỏ cảm xúc với chiêm nghiệm, liên tưởng giữa cái “gặp”, cái “thấy” trong cuộc sống với ý thức chiêm ngưỡng, thưởng thức. Chẳng hạn, khi đến phố Bắc Kinh ở Quảng Châu (Trung Quốc) nhà thơ cảm nghĩ: “Con phố cũ càng nằm duỗi giữa nội đô/Hồn giấu sâu vào thịt da từng thớ đất”. Và, anh cũng thấy cái nhỡn tiền trên đường phố được mệnh danh “cổ kính” này: “Đá lát đường vẹt mòn theo muôn vạn gót chân/Phiêu bạt bao mảnh đời cuộn vào hồn phố”. Còn đây là hình ảnh Nữ Thần tự do ở New York, Hoa Kỳ: “Sóng khật khưỡng xô đổ bóng mình thời xa vắng/Sau mười một tháng chín/Nữ Thần buồn/Hành khách mất tự do?”. Nhưng công bằng mà nói, ở phần đầu thơ còn hơi nghiêng về tả cái mới, cái lạ trong cái “cảm”, cái “nhìn”.
        Như để khỏa lấp cảm xúc của người đọc, sang phần hai của tập thơ có tiêu đề “Hồn chữ”, gồm 17 bài, chiếm gần hai phần ba số bài trong tập, thì nhà thơ như trầm lắng, suy tư và chắt lọc hơn. Bởi có lẽ với Tô Ngọc Thạch, con chữ cũng như con người, có hồn cốt chứ không trần trụi chỉ là đường nét ngắn dài. Và như thế, người làm thơ sử dụng chữ nghĩa không chỉ ở cái vỏ ngôn từ, mà phải là từ trong hồn cốt từng con chữ mới được, vì chữ cũng như người có “hồn” đấy. Người đọc có thể thấy điều này ngay ở bài thơ được đặt làm tiêu đề cho phần 2 “Hồn chữ”, như một “Tuyên ngôn” thơ của Tô Ngọc Thạch: “Đời người thơ mong vài chữ từ hồn mình sang làm tổ trong lòng người đọc/Vòm trời liếc ngang trang giấy toát mồ hôi/Con chữ sâu xa tìm góc khuất ngủ vùi/Con chữ dễ dàng hàng hàng ngang dọc.../Đi tìm con chữ thép/Tìm con chữ đớn đau như sản phụ lâm bồn/Con chữ bùa mê lạc phách xiêu hồn/Con chữ như thịt da bấm vào là chảy máu/Con chữ xuất thần, huyền ảo/Mở vệt loang, hình ảnh ngợp đầy/Cho ngôn từ sống động mê say/Có “nhãn tự”, có nhân, có nghĩa...”. Đọc hết phần 2, và những bài thơ mới gần đây của nhà thơ Tô Ngọc Thạch, thấy rõ ý tưởng đưa thơ mình đến ngày càng gần hơn với văn hóa dân tộc, giản dị, khúc triết và chân thực, nhưng lại đậm chất trữ tình, trí tuệ, mà mấy câu trích trong bài “Thơ vớt lên từ chiếc gàu múc nước” ở phần đầu bài viết này bạn đọc có thể đã nhận ra. Hoặc ở bài “Cánh diều mùa xuân”, chợt nghe cái tít có vẻ cũ mòn, nhưng thơ lại không cũ mà còn khá mới lạ và táo bạo trong cách diễn đạt ngay từ câu mở đầu: “Tôi phất hồn mình thành cánh diều mùa xuân thả vào bầu trời thơ ấu/Hương lúa thơm lừng lựng góc trời quê/Hạt thóc đớn đau cõng bao mưa nắng tái tê/Mẹ tãi nhọc nhằn ra phơi trong những ngày giông gió/Lật tìm bóng mình dưới sá cày sấp ngửa/Gói lại bóng đêm cho ban mai duỗi dài vào cánh đồng tít tắp cuối hoàng hôn…/Xâu từng hạt nắng thành chuỗi sáng giấc mơ mùa thu hoạch/Sáo diều ngân vang rồi đọng xuống mắt ai như giọt mật/Mẹ gồng mình nâng cả vòm trời cho diều cất cánh vươn xa”. Hoặc ở bài “Giọng văn” viết về nhà văn Nguyên Hồng bằng những câu thơ phóng khoáng, giản dị mà đầy suy tư, trải nghiệm: “Từng con chữ quặn đau như đang trong cơn thoát xác.../Dòng cảm xúc như máu chảy ra từ ngòi bút/Có ánh sáng ở trong nước mắt giọng văn như khẩu ngữ riêng mang hồn cốt Hải Phòng”.
        Sau cùng cũng muốn nói, dường như nhà thơ Tô Ngọc Thạch như không hài lòng với cách nói, lối dùng từ ngữ một cách thông thường, đúng như trong bài “Cho cảm xúc quay về” anh đã viết: “Siêu vẹo ngổn ngang bao xác chữ vô hồn”, mà muốn kiếm tìm cách nói, câu chữ mới lạ hoặc ít ra cũng không quá quen thuộc. Hẳn khi đọc mấy câu dẫn trong bài người đọc phần nào đã nhận ra, nhưng chúng tôi vẫn muốn dẫn thêm đôi câu nữa để người đọc thấy rõ hơn. Chẳng hạn những câu như: “Chiết khấu linh hồn tăng phần trăm thể xác”, “Trời nhả lửa vào miền quê êm ả”, “Tôi phất hồn mình thành cánh diều mùa xuân thả vào bầu trời thơ ấu”, “Mỗi trận mưa như trời tra hạt. Ủ ngày xanh mở mắt, bật mầm”, “Nỗi đau không nhai mà ghê răng một thời xa vắng”, “Cầm lời hẹn cấy vào cánh đồng im ắng”, “Gió thời gian thổi mòn cùn mái rạ”, v.v. Bởi thông thường, người ta hay nói nắng như trời đổ lửa, chứ không mấy người nói “nhả lửa”, cũng thế, khi làm diều thì nói phất hồ lên tấm giấy, chứ không mấy ai nói “phất hồn”, nhưng khi nhà thơ viết “phất hồn mình thành cánh diều” thì không chỉ lạ mà còn làm sang câu thơ và gợi liên tưởng mạnh trong người đọc. Bởi suy cho cùng, người làm thơ, cũng như người viết văn, không những sử dụng thạo ngôn ngữ mà còn có trách nhiệm làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, văn hóa dân tộc. Và điều đó cũng thể hiện rõ trách nhiệm công dân và ý chí sáng tạo không ngừng của người cầm bút./
CN