/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

CÁCH ĐẶT TÊN CÁC ĐỊA DANH KỲ LẠ

Nhà nước cần phải có bộ quy chuẩn về cách đặt tên đường phố, thôn xã cũng như tên gọi tất cả các thứ khác nữa để mọi địa phương trên toàn quốc thống nhất thực hiện?

CÁCH ĐẶT TÊN CÁC ĐỊA DANH  KỲ LẠ 

.

       Mấy năm trước, tôi đã có bài viết cập nhật tới vấn đề quy chế đặt tên đường phố, rồi cách quảng cáo ở các bảng hiệu như: “Phòng khám phụ khoa Hai Bà Trưng”, “Phòng nhổ răng Lý Thường Kiệt”,... Hay cùng một quốc gia, nhưng miền Bắc gọi là phố, còn trong Nam gọi là đường, hoặc trong cùng một nội đô, cùng một quận lỵ cũng có cách đặt tên khác nhau, chỗ đặt là phố, chỗ đặt là đường?

      Hay trong một đô thị đã có phố Trạng Trình, lại có phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, có đường Nguyễn Huệ lại có đường Quang Trung, hay có hai phố Trần Hưng Đạo.v.v. Thú vị hơn là những cái tên đầy đủ của các danh nhân bị cắt còn hai từ để đặt tên cho các địa danh như đường phố, làng xã, cầu cống: Quốc tổ Lạc Long Quân thì bị cắt chữ Quân thành Lạc Long. Người sáng lập ra Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam là An Dương Vương thì bị cắt chữ Vương thành An Dương. Vị tướng thời Tiền Lý là Triệu Quang Phục bị cắt chữ Triệu thành Quang Phục. Đức thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn bị cắt chữ Trần thành Quốc Tuấn, còn cái tên thường gọi của Đức thánh là Trần Hưng Đạo hay tước Vương của Người là Hưng Đạo đại vương, thì cũng bị cắt chữ Trần hay chữ đại vương thành Hưng Đạo. Tướng công Phạm Ngũ Lão bị cắt họ thành Ngũ Lão... Đến thời cách mạng thì Nguyễn Thị Minh Khai bị cắt họ cùng tên đệm thành Minh Khai.v.v.

        Song khi nghiên cứu về các địa danh cổ ở ngoại thành tôi thấy cách đặt tên của ông cha ta là khá khoa học. Tên làng xã phản ảnh khá đầy đủ về sự ra đời hay nghành nghề của địa danh ấy như: Nguyễn Xá là làng Nguyễn. Đông Xá là làng Đông. Tây Am là làng Tây hay làng Miệt, Mạt âm Nôm là Mét, tức làng ven sông nước. Làng Đường Thâm là làng Đường Cung Vua (nơi vua chúa ở) hay Vạn Am, Vạn Sơn, Vạn Hương là làng chài. Làng Chìa, làng Thừa là mảnh đất dư dôi. Làng Lác hay làng Lau là nơi có nhiều cỏ. Thượng Đồng là cánh đồng cao có trước. Hạ Đồng là đồng đất thấp và có sau. Làng Hôi, âm Nôm là Ho, nghĩa là Tro do làng có nghề làm hương đen, nên đốt bã mía lấy tro làm nguyên liệu chính....

       Đến thời cách mạng thì hầu như các tên cổ bị đổi thành tên mới như: Quyết Tiến, Chiến Thắng, Đại Thắng, Tiền Phong, Hạnh Phúc, Tự Do, Vĩnh Tiến, Việt Tiến.v.v. Tưởng chừng những cái tên kia làm cho đời sống cư dân của các miền quê ấy khá hơn, hạnh phúc hơn, tiến mạnh, tiến nhanh chẳng thấy đâu, chỉ khổ những người đi tìm quê cũ của mình hàng năm trời, thậm chí hàng chục năm trời mới tìm ra.

        Ở lục tổng khu dưới của huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng có câu ca khá nổi tiếng: “Thập bát trang Am sang Nam mất một. Đây là câu ca về 18 làng Am ra đời từ thời Lê Mạt, mà phần lớn những làng Am này là do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt tên. Song vì biển Đông dần lùi ra xa, các ngư dân khó khăn trong việc đánh bắt cá, họ lên bờ canh tác. Cái tên Vạn Am chuyển thành Vạn Hoạch, rồi cộng thêm cư dân nơi đây theo đạo Công giáo, nên họ không quan tâm tới các sắc phong, bia đá, thần tích thần sắc... nữa, nên suốt bao năm trời chúng tôi mới tìm được ra làng Am này.

        Hay xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ có hai Tiến sỹ Nho học là Nguyễn Bá Tùng thời Lê sơ và Nguyễn Duy Tinh thời nhà Mạc, mà các nhà nghiên cứu văn hóa, sử học làm sách từ thời nhà Nguyễn còn chưa biết thuộc tổng nào trong huyện Tứ Kỳ, phần/ chú thích ghi có thể là xã Lạc Dục, huyện tứ Kỳ, nay là xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Rồi sách Lịch sử huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ghi quê trước đây là sở Tây Tạ, nay là thôn Thượng Đồng và thôn Hạ Đồng xã An Hòa. Còn thôn dân Tường Vân, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo thì được tư vấn là xã Tạ Xá, nên đã thờ nhà khoa bảng Nguyễn Bá Tùng ở đền Thái Giám không biết bao nhiêu năm nay. Đến giờ chúng tôi tìm cho họ chính là nhà khoa bảng thời Mạc Phạm Tri Chỉ quê gốc ở Tường Vân, nhưng họ vẫn còn bán tín bán nghi.v.v?

        Tôi tưởng chỉ có ở thành thị thì mới cắt các tên đầy đủ của các danh nhân thành hai từ cho ngắn gọn. Ai ngờ ở nông thôn còn cắt dữ hơn ta tưởng. Đơn cử như làng khoa bảng Cổ Am trước đây có tứ giáp là Chính Hà - Chính Phần – Tràng Thọ - Thượng Thọ, đến thời cách mạng được chuyển đổi thành xóm 5, xóm 4, xóm 3, xóm 2, xóm 1, rồi năm 1956 thôn Cổ Am thành xã thì các xóm kia thành thôn 5, thôn 4, thôn 3, thôn 2, thôn 1. Đến thời cơ chế thị trường đổi thành thôn Gia Cát, Thuận Hòa, Quốc Tuấn, Minh Khai và Lê Lợi. Cách đây vài tháng tôi có hỏi một trí thức trẻ ngoài tứ tuần và một trí thức khác tuổi thất tuần ở thôn Quốc Tuấn hiện sinh sống tại Hải Phòng về tên thôn mới của quê họ? Cả hai người đều bó tay chấm com?

        Giá như Cổ Am giữ nguyên tên cổ và thôn Tràng Thọ thành Tràng Thọ 1 và Tràng Thọ 2 thì có tuyệt vời không, đằng này lại cắt tên nhân vật lịch sử kiệt xuất của Trung Quốc là Gia Cát Lượng thành Gia Cát, rồi cắt họ của Đức thánh Trần thành Quốc Tuấn, rồi cắt họ cùng tên đệm nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai thành Minh Khai...

        Không chỉ có Cổ Am cắt họ của Trần Quốc Tuấn thành Quốc Tuấn, mà còn có huyện An Dương, huyện An Lão thành phố Hải Phòng, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương... Hay cắt họ của Trần Hưng Đạo hoặc cắt hai chữ đại vương tước hiệu vua ban cho Trần Hưng Đạo thành Hưng Đạo làm tên xã ở các địa danh: Quận Dương Kinh, huyện An Lão, huyện An Dương thành phố Hải Phòng, huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương, huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn,..?

        Nhiều người cũng đưa ra các lý lẽ khôn ngoan để bảo vệ cái sai của mình như Nguyên Giáp tức là thiên can đầu, hoặc Hưng Đạo là thịnh đạo đức chẳng hạn... nhưng chúng tôi dẫn ra những minh chứng về việc đặt tên ở nhiều địa danh khác có đầy đủ họ, tên đệm, tên của danh nhân thì họ mới chịu. Cũng có ý kiến khác cho rằng, trước đây tên người ta chỉ có họ và tên, rồi sau này mới có tên đệm, hoặc tên gồm vài từ, chứ thời cổ tên người chỉ có một từ. Vì thế mà thành thói quen, nên tên danh nhân thông thường cũng chỉ hai từ và khi đặt tên cho địa danh người ta thành thói quen chỉ dùng hai từ là như vậy.

        Mấy anh tôi đùa với nhau: “Quốc tổ của dân tộc Việt Nam, họ còn cắt được thì bất kỳ danh nhân nào, thánh thần nào họ cũng chẳng nể”. Thật bất ngờ khi tìm hiểu về huyện lỵ Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, tôi phát hiện ra tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị cắt chữ Võ đi còn Nguyên Giáp, được đặt tên cho xã ngay bên Tả sông Luộc, có trụ sở ở phố Quý Cao, còn cái tên Hồ Chí Minh bị cắt họ của Bác đi thành Chí Minh, đặt tên cho xã Chí Minh. Tôi nghĩ người dân nông thôn đặt tên như vậy vì trình độ văn hóa thấp có thể chấp nhận được. Ai ngờ cái tên Chí Minh còn được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt số 788/NQ-UBTVQH14 ngày 16 tháng 10 năm 2019 của các xã Đông Kỳ, Tây Kỳ, Tứ Xuyên thành xã Chí Minh do Chủ tịch Quốc hội ký?

        Thế rồi sang thời kinh tế thị trường, thấy ở nước Mỹ người ta đặt tên địa danh đường phố, quận huyện theo số thứ tự, ta cũng bắt chước theo. Nhưng bên đó khi biết được địa chỉ ở đường số mấy, quận số mấy là người dân cũng mường tượng ra nó nằm ở khu vực nào, đều theo một nguyên tắc nhất định. Cũng như khi đánh số nhà ở thành phố nước ta, thì tính từ nhỏ tới lớn, từ Bắc xuống Nam, bên trái là số lẻ, bên phải là số chẵn. Chứ không phải như ở nông thôn hiện nay, có xã đặt thôn theo nguyên tắc từ Bắc xuống Nam, có xã làm ngược lại, có khi không theo một quy tắc nào cả. Tôi không phải là chuyên gia về việc này, nhưng làm thử việc đặt tên 30 xã cho huyện Vĩnh Bảo. Trước hết lấy đường 337 dọc sông Chanh Dương làm mốc, theo nguyên tắc từ trên xuống (tức từ Bắc xuống Nam) thì bên trái là số lẻ, bên phải là số chẵn, do vậy xã số 1 (Thắng Thủy) xã số 2 (Vĩnh Long) và cứ thế kéo xuống xã số 29, số 30 là Trấn Dương và Vĩnh Tiến. Nếu người từ địa phương khác tới hỏi xã số 29, số 30 thì chắc chắn phải đi xuống phía Nam cuối huyện, còn hỏi xã số 1, số 2 thì phải tới xã phía Bắc của huyện, bên triền Hữu sông Luộc. Hoặc thôn Tạ Ngoại, xã An Hòa nay tách làm hai thôn là Tạ Ngoại 1 và Tạ Ngoại 2, ta cũng phải lấy quy tắc nhìn từ Bắc xuống Nam, bên phải là số chẵn (Tạ Ngoại 2), bên trái là số lẻ (Tạ Ngoại 1), nhưng lãnh đạo nơi đây lại làm ngược lại.

        Nhưng những quy tắc việc đặt tên theo số thứ tự cho thôn xã thì cấp trên cũng “mù văn tịt”, còn cấp trung gian thì cũng “tịt văn mù”, nên mấy ông bà lãnh đạo cấp cơ sở thích đặt số nào thì đặt và những cái tên thiêng liêng từ xa xưa, nay biến mất. Ngay chính những người xa quê một vài chục năm, giờ cũng “lơ nga lơ ngơ như bò đội nón không biết tên quê mình là gì và khi ai hỏi thì cũng lắc đầu chào thua.

Hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, bầu trời và ngoài trời

Cầu Lạc Long bắc qua sông Tam Bạc nội thành Hải Phòng
      
          
Bồi hồi nhớ lại vào thập niên 70 của thế kỷ XX, chúng tôi được đi du học tại Liên Xô. Thời ấy phương tiện giao thông thuận tiện nhất với du học sinh là ô tô buýt. Tôi không bao giờ quên, cứ lên xe số 18 và đến bến cuối cùng là gần ký túc xá chúng tôi sinh sống. Mấy năm trước mấy anh em quay lại trường cũ và cũng nhảy lên xe số 18, dẫu rằng xe thời nay đẹp hơn, hiện đại hơn nhưng cũng chạy theo tuyến cũ. Khi xuống xe ở bến cuối cùng để về khu ký túc xá ngày xưa mà chúng tôi có thời gắn bó, tôi mới hỏi một cụ già người bản địa:

-         Làm ơn! Ông cho hỏi, xe buýt số 18 này có từ bao giờ?

-         Có từ khi mới thành lập chính quyền Xô Viết, mà cũng có thể trước đó nữa, vì ông nội tôi kể với tôi là bố ông ấy cứ lên số 18 là về được nhà.

 -         Tại sao vậy hở ông? 

-         Vì ở Nga là xứ sở lạnh, có khá nhiều người bét rượu hoặc nhiều cư dân sinh sống ở vùng xa xôi khác, chỉ cần nhớ xe số 18 của thành phố này là về được đây? Và ông nhắc lại số 18 nhớ nhé!

          Tôi thầm cảm ơn người đàn ông tốt bụng và thấy cách quản lý của bạn đáng để chúng ta học tập, không riêng gì số xe, số nhà hay các địa danh đường phố, làng xã. Ngoại trừ trường hợp bị thiên tai địch họa, còn tất cả những gì thế hệ trước xây dựng, đặt tên... thì thế hệ sau cần bảo vệ giữ gìn. Đây là bài học cho các cơ quan quản lý của Việt Nam thời cơ chế thị trường...?

        Quay lại bánh xe thời gian, nước ta từ thời thuộc Minh (1400) thông thường xã (làng) có tứ giáp, tức cơ số dân ít nhất phải có từ 110 hộ trở lên, ngang với bây giờ gần 200 hộ vì nhà nào cũng bảy, tám, mười người, thì lúc này xã mới có lý trưởng (xã trưởng), còn đất đai của xã rất rộng bởi dân số của Đại Việt chỉ có vài triệu nhân khẩu. Đến thời bao cấp, diện tích của một thôn cũng khá rộng và chỉ có một trưởng thôn với phụ cấp một dành thóc (20 kg) mỗi tháng. Đến thời cơ chế thị trường thì thôn thời bao cấp xé lẻ ra thành dăm bảy thôn, tất cả lãnh đạo thôn cộng với lãnh đạo các tổ chức đoàn thể... tạo thành một “cỗ máy khổng lồ” hưởng lương, phụ cấp của ngân sách. Đại đa số các thôn, xã còn không nộp cho ngân sách được xu nào vì quanh năm suốt tháng thu không bù chi...

       Tôi không để ý nhiều tới “cỗ máy khổng lồ” này, mà quan tâm tới việc đặt tên làng xã ngày nay chưa hợp lý, khó hiểu và còn hơi bị “thiếu văn hóa”. Tại sao vậy? Trong đời sống thường nhật của con người có hai loại văn, đó là văn nói và văn viết. Khi nói thì các chữ cái A, B, C, D, Đ đọc là a, bê, xê, dê, nhưng khi viết thì đọc là a, bờ, cờ, dờ, đờ. Thế mà có những chuyên gia ngôn ngữ làm MC rất nổi tiếng ở Đài Truyền hình Việt Nam khi nói các nước G7, thì lại nói là gờ 7, mà chính xác phải là gi 7. Nói mãi thành quen, bây giờ mọi người đều gọi gờ 7...

        Rồi ở quê ngoại tôi, xưa là làng X, đến thời cách mạng là thôn X, thời kinh tế thị trường thôn X xé lẻ ra thành 6 thôn và được gọi từ thôn 1 đến thôn 6, việc đánh số cũng lung tung không theo một nguyên tắc nào cả. Địa chỉ bây giờ là thôn 1 xã Y, huyện T, tỉnh H, rồi ở Vĩnh Bảo cũng có nhiều làng xã được đặt như vậy và đặc biệt một số làng cổ mang tên Tạ, tên Am cũng được gọi theo số thứ tự từ một đến số cuối cùng.

        Không biết mất bao nhiêu thời gian chúng tôi mới tìm được làng Am thứ 18, thế mà nay tìm địa chỉ của làng Tiên Am, làng Bào Am, xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Bảo không còn trong Bách khoa toàn thư hay địa chỉ của các doanh nghiệp. Hai cái tên này không còn nữa, mà thay vào là thôn 1, thôn 2, thôn 3, thôn 4, thôn 5. Hai cái tên Am này do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt. Hơn bốn trăm năm còn giữ được, đến nay sao lại để mất, nếu vậy thế hệ chúng ta ngày nay có tội với tiền nhân.

        Những địa danh mới này không mang ý nghĩa gì và trùng trùng điệp điệp những cái tên thôn 1, thôn 2, thôn 3, đến thôn X ở một huyện thì rất khó nhớ, khó gọi, dễ bị nhầm lẫn. Cũng giống như việc trong một thôn có dăm chục người tên Dũng, hay ở một văn phòng Tỉnh ủy có vài chục người tên là Hoa chẳng hạn thì biết gọi, biết nhớ làm sao? Mong rằng các cấp chính quyền từ tỉnh thành tới trung ương quy định cơ số dân, cũng như diện tích đất đai cho phù hợp ở mỗi một thôn, xã và cách đặt tên cho các địa danh vừa kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, sao cho đa số người dân chấp nhận được. Tôi gợi ý ví như xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Bảo có năm thôn thì làng Tiên Am gồm thôn 1 và thôn 2, còn thôn 3 và thôn 4 một nửa là Tiên Am, một nửa là Bào Am, còn thôn 5 là thôn mới. Vậy đặt thôn Tiên Am 1, thôn Tiên Am 2, thôn Tiên Bào Am 3, thôn Tiên Bào Am 4, thôn Mới 5 là hợp lý.

        Cũng giống như cách sử dụng theo văn nói và văn viết thì làng ở đây là đơn vị hành chính thời phong kiến, còn thôn là đơn vị hành chính thời nay. Nên khi đề quê quán thì phải viết là thôn A, thôn B chứ không phải làng A, làng B. Còn hầu hết tên của các địa danh bị cắt bớt cho ngắn lại phần nhiều chỉ xảy ra ở miền Bắc, còn từ vỹ tuyến 17 trở vào đỡ hơn. Những làng xã nào đặt tên thiếu họ hay tên của các danh nhân, các vị thánh thần thì có thể gọi địa phương ấy “văn hóa thấp”, bắt buộc phải thêm từ vào cho đầy đủ. Những địa danh này chưa thể gọi là làng văn hóa, xã văn hóa hoặc tỉnh văn hóa được?

        Còn những địa danh nào đặt tên chưa chuẩn xác thì phải chỉnh lại cho đúng, giống như thành phố Hồ Chí Minh vừa đặt lại tên cho 38 đường (phố). Theo thông lệ quốc tế thì thủ đô của quốc gia đặt ở châu lục nào thì quốc gia đó nằm ở châu lục đó, còn tên gọi của người dân thủ đô là gì thì các tỉnh, thành khác phải theo, chứ không phải ở Hà Nội gọi là phố thì quê tôi gọi là đường, ở Hà Nội gọi “con có tám cẳng, hai càng, bò ngang” là cua đồng thì ở quê tôi gọi là “cẫu”, hay ở Hà Nội gọi là bát thì quê tôi gọi là chén và các từ “đường”, “cẫu”, “chén” chỉ là tiếng địa phương. Thời gian vừa qua nó đã gây mất không biết bao nhiêu tiền của, phiền phức cho người dân cũng như doanh nghiệp vì thuế suất bởi miền Bắc áp dụng thuế “phố”, còn miền Nam áp dụng theo thuế “đường”, kêu ca mãi Bộ Tài không biết làm gì hơn, liền chỉnh các loại thuế suất như nhau thế mới yên.

        Cũng chẳng khác nào như chuyện xảy ra hơn ba chục năm trước, nhà chính trị Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi đến Quảng Châu phát biểu, nhưng đại biểu tỉnh chẳng hiểu gì cả vì ông ta nói tiếng Bắc Kinh, mà người dân Quảng Đông lại dùng tiếng Quảng. Sau đó mới có có cuộc cách mạng toàn quốc bắt buộc phải dùng tiếng phổ thông.

        Những so sánh với các quốc gia khác đều là khập khiễng, nhưng dù gì chăng nữa, Nhà nước cần phải có bộ quy chuẩn về cách đặt tên đường phố, thôn xã cũng như tên gọi tất cả các thứ khác nữa để mọi địa phương trên toàn quốc thống nhất thực hiện?

 Trong tôi bật ra dòng cảm xúc:

ĐẶT TÊN

Cạn đông gió bấc dội về

Niềm thương phiêu bạt tái tê lạ thường

Ngẩn ngơ con phố cung đường

Rạ rơm làng xã còn vương vương nồng 

Nỗi đau nhoi nhói phập phồng

Dửng dưng ai thả não nùng vào xanh

Buồn sao hào kiệt, tài danh

Cắt đầu chặt đít hồn dềnh về đâu…

Bơ vơ trong cõi âu sầu

Thánh nhân tay vái, cúi đầu lạy: Nay?

NGỌC TÔ