/Có nghe góc bể chân trời. Sông mê mẩn khúc lở bồi gọi xanh/ Thơ Lâm Xuân Vy

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

Vật dụng đầu đời

Có thể nói, công dân Việt Nam từ người lao động, sinh viên đến nghiên cứu sinh... đã hội nhập vào nền kinh tế thị trường của những năm cuối cùng trước khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tan rã.

Vật dụng đầu đời 

Bút ký của Thi An 

 

       Barnaul đã vào đông, thời tiết khá lạnh. Những cánh tuyết từ trên cao cứ chao đi liệng lại rồi mới là là chạm đất. Nhìn những bông tuyết trắng phau, sợi tuyết li ti trông rất duyên dáng, đôi lúc tôi cảm thấy chúng như cô gái dậy thì đang nũng nịu người yêu. Rồi đôi lúc gặp cơn gió mạnh cánh đồng tuyết ấy lại như được giãn ra, tạo nên những sóng tuyết dài vô tận, đẹp đến nao lòng.

       Khi nằm điều trị tại bệnh viện thành phố, tôi mới biết Altai có tờ báo “Làm quen”, mỗi tuần ra một số. Khách hàng có nhu cầu tìm hiểu bạn đời, được ban biên tập bố trí cho làm quen qua các dạ hội hoặc tại văn phòng của tòa soạn. Còn mục rao vặt, giống tờ muaban.net của Việt Nam, nhưng không có mục mua bán bất động sản. Tôi muốn mua chiếc máy khâu Singer cũ để sử dụng may vá cho bản thân và bạn bè. May nhờ có tờ báo “lá cải” đó, tôi có được địa chỉ rao bán máy tại một quận ven đô. Sáng chủ nhật hôm ấy, ngoài trời “Tuyết phập phồng trú trong nỗi nhớ đã phủ dày mặt đất hàng nửa mét. Thời tiết khá lạnh. Theo địa chỉ, tôi bắt taxi, vòng vo tam quốc mãi mà cũng không tìm được ra tên phố. Vì nhà chủ không có phôn, tôi bảo lái xe tới đồn công an gần nhất may mới có cơ hội. Nhoằng một cái, đồn công an hiện ra trước mặt, chúng tôi được người trực ban hướng dẫn tỷ mỷ và cuối cùng cũng tìm đến được địa chỉ trên. Tới nơi, chủ nhà là một phụ nữ Nga trung tuổi, khuôn mặt phúc hậu. Nhìn chiếc máy khâu lạ, được sản xuất từ cuối thế kỉ 19. Tính đến thời điểm hiện tại máy đã có tuổi thọ trên 100 năm. Nhìn qua thấy cơ cấu hoạt động bình thường. Riêng phần chuyển động, bộ phận chao, quả đào rất giản đơn và cổ. Thử may một đường, thấy máy chạy rất êm. Thế là tôi quyết định mua ngay với giá 35 rúp. Khi mang về ký túc xá, mọi người xúm lại xem. Có anh bạn đùa, nếu thi đồ cổ thì máy của “bố” đoạt giải nhất. Tôi đáp lại, máy người cổ thì mới sợ, chứ máy khâu cổ thì tuyệt vời.
.
 

       .
      Cái máy khâu này là vật dụng đầu đời tại Xibia, giúp tôi trở thành người có tay nghề may vững nhất thành phố. Những lúc nhàn rỗi, ngày nghỉ tôi mang máy ra may vá quần áo cho mình, bạn bè và đôi lúc anh em thương tình trả tiền chỉ hay mời làm chầu bia hơi với cá hun khói. Về sau tôi nhờ người ở Mát mua hộ chiếc máy khâu Traika II, có thêm chức năng vắt sổ dic dắc và chiếc máy chạy điện loại 67 rúp, hai máy này do Liên Xô sản xuất. Từ lúc có máy mới, chiếc máy singer cũ bị bỏ quên. Gần chục năm sau, khi về nước tôi cố nhớ cái máy cổ đó, nhưng chẳng rõ mình cho ai, để đâu... Mấy tay săn đồ cổ ở Việt Nam suốt ngày hỏi mua, nhưng tôi không thể nào nhớ nổi nữa.

Thời ấy anh em Việt Nam làm thêm để có thu nhập cũng không được phép. Có dư chiếc áo phông cá sấu Thái hay cái kính râm mang đi bán, không khéo bị bị công an tóm được là phiền. Hành vi đó được ghép vào tội buôn bán trục lợi. Mỗi một người dân Nga đều có số bảng lương (tabel), nên người dân không thể làm thêm để tăng thu nhập. Một tuần chỉ được lao động 40 giờ, nếu quá số giờ trên lại vi phạm vào luật công đoàn. Rồi lương của một viện sỹ chưa chắc đã bằng một công nhân thợ mỏ... Nên việc kiếm thêm thu nhập cho bản thân không phải là dễ. Thời gian hai năm trôi qua, hôm họp với công an vùng Altai, tôi mạnh dạn nêu: Làm thế nào để giải quyết việc mua bán hàng hóa có xuất xứ từ nơi khác chuyển về. Cuộc tranh cãi tương đối gay gắt, sau đó phía công an bạn thống nhất với chúng tôi, hàng hóa bán ra phải đóng thuế mới được phép. Tiện thể tôi đề cập luôn: Nếu gửi bán ở Comision (Cửa hàng đồ cũ) có được không? Vì cửa hàng quốc doanh do người Nga kinh doanh. Sau một hồi bàn bạc, hỏi ý kiến cấp trên, cuối cùng bạn mới đồng ý. Có lẽ đây cũng là mốc quan trọng cho việc bán hàng ký gửi tại Xibia và nước cả nước Nga.

      Được thể, anh em chúng tôi tổ chức may quần áo theo nhóm. Mác mỏ do người Nga cung cấp. Còn vải, chỉ, máy khâu của Nga, may xong mang ký gửi ở cửa hàng đồ cũ, giá cả do mình định đoạt. Theo nguyên tắc thương mại, hàng hóa ký gửi sau hai tuần không bán được thì tự cửa hàng giảm giá 30%, lần tiếp theo lại giảm tiếp như vậy cho đến khi bán được thì thôi. Nếu không để ý thì hàng hóa ký gửi sau một thời gian, giá trị còn một vài rúp.

      Những tháng năm đầu hàng hóa tiêu thụ khá tốt. Sau phải đổi mốt liên tục cho phù hợp thị hiếu thời trang mới tiêu thụ được. Lúc đầu là may quần áo bò, sau là bò mài, rồi bò mài rách gối, rách mông... Hàng hóa người Việt sản xuất cạnh tranh với hàng nhập từ Trung Quốc, từ Việt Nam sang, rồi còn cạnh tranh với các nhóm sản xuất trong cùng cộng đồng. Thời gian đầu còn ký gửi hàng may mặc, hàng điện tử ngay trong thành phố. Dần dần phải đi ra ngoại ô, rồi đi xa hơn, đến các thành phố Bisk, Novosibirsk, Omsk, Tomsk, một số thành phố khác xa hàng ngàn cây số. Và “Kinh tế gọi tới những vùng xa lắc. Những cái tên chưa có trong bản đồ trái đất. Thế mới biết dân Việt mình rất nhanh nhẹn trong khâu tiếp thị. Từ khi thâm nhập vào cơ chế thị trường, lúc rảnh anh em nào biết may thì ở nhà may, anh nào có năng khiếu giao dịch thì giao dịch, các tệ nạn “Vô công rỗi nghề” giảm hẳn. Anh em tích cực lao động thêm để kiếm hòm hàng gửi về cho gia đình.
.
 

     Phong cảnh mùa đông tại Xibia
.
       Cũng chuyện về vòng tuần hoàn chiếc máy khâu quay tay Liên Xô mà nhiều người sống bạc đầu ở Nga chưa biết. Vào thập kỷ 70, 80 thế kỷ trước, mấy bác sứ quán Việt Nam mua máy khâu quay tay của Nga gửi về nhà. Nhóm buôn hàng Nga mua chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây được cơ sở chế tác mông lại thành máy khâu Singer, made in France. Rồi máy được bày bán tại cửa hàng cửa hiệu hẳn hoi. Chuyên gia dầu khí Nga thấy thế mua gửi về Mát. Hàng về đến nhà, gia đình bỏ ra sử dụng. Máy kêu lọc cọc phải biết, mở ra thì các chi tiết giống 100% của Liên Xô, trong lốc máy hãy còn bốn chữ cái to tướng CCCP “của công cứ phá”... Biết là hàng dởm, gia đình lại đem ra cửa hàng đồ cũ Mát ký gửi. Mấy chú sinh viên Việt Nam, trông thấy máy singer Pháp đòi mua bằng được, nhanh chóng gửi tàu biển về nước. Cứ như thế, chiếc máy khâu Nga vòng quanh trái đất bao nhiêu lần...

     Tôi còn nhớ, vào thời gian này, mốt thời thượng với người dân Việt Nam là áo bay. Hầu như toàn Liên bang chỉ có liên hiệp bông vải sợi ХБК Barnaul sản xuất. Theo kênh phân phối hàng, nhà máy không được trực tiếp bán mà phải qua hệ thống thương mại là bách hóa tổng hợp trung tâm ЦУМ. Cứ có tý vải nào xuất xưởng, ra đến cửa hàng là “soái” Thăng, soái Lình “chỗm” cửa trên mất. Anh chị em muốn mua được tý vải, phải chầu chực xếp hàng mấy giờ đồng hồ liền. Cửa hàng vừa mới bán được vài cuộn, nếu thấy mặt hai “soái”, nhân viên bách hóa báo hết hàng.

Khi nhu cầu trong nước tăng, vải bay được giá, người Việt trong Liên bang trước là nhờ anh chị em chúng tôi mua hộ với giá gốc 2,6 rúp một mét, sau chấp nhận mua giá cao hơn một chút. Có cầu ắt phải có cung, thế là chuyện buôn vải bay tại Barnaul xảy ra như cơm bữa. Giá vải bay có lúc lên 3,5 rúp đến 4 rúp một mét. Các hàng hóa khác trong Liên bang cũng trong tình trạng như vậy. Vì sao lúc đó lại hiếm hàng hóa? Theo cảm nhận của tôi, là do chế độ bao cấp tồn tại quá lâu. Các mặt hàng sản xuất đều theo kế hoạch Nhà nước giao, giá cả định sẵn trước khi xuất xưởng. Cộng với những năm cuối cùng của Liên bang, nhiều cơ sở sản xuất cầm chừng. Người nước ngoài thấy giá cả hợp lý, nên đã mua để vận chuyển về nước họ. Cách quản lý nền kinh tế bị buông lỏng.

Những năm tháng khó khăn đó, kiếm được đồng tiền đã khó. Nhưng chuyển đồng tiền đó như thế nào về Việt Nam có lợi nhất, còn khó hơn. Thật là “Bụi thời gian bạc trắng lo âu. Hoàng hôn trầm ngâm đục ngầu ký ức” Thời gian đầu việc mua, gửi hàng còn thoáng, về sau hàng hóa Liên Xô khan hiếm, bạn quản lý chặt. Mỗi một hòm hàng được quy định đóng 5 nồi áp suất, 5 cái bàn là, 10 cái chậu nhôm... Lợi dụng kẽ hở luật pháp, hải quan bạn ở cảng “đục nước béo cò”, cạy nhiều hòm hàng của người Việt, tự ý thu hàng. Cũng chẳng có biên bản gì cả, người gửi hàng cũng không biết khiếu lại với ai cả. 

       Những tháng gần về nước. Tôi là người được đơn vị đặc cách lo việc gửi hàng cho anh em. Từ khâu liên hệ với các xưởng mộc đặt hòm, làm thủ tục gửi hàng. Rồi tổ chức đóng hàng, mời hải quan đến kiểm tra, kẹp chì sau khi cho hàng vào container, làm thủ tục chuyển hàng theo đường sắt tới cảng Odetsa về Việt Nam. Chuyện đóng hàng không lo bằng chuyện làm sao mua được hàng mà đóng. Mua cái gì? Đây là một bài toán vô cùng hắc búa. Công dân các nước khác họ quy ra ngoại tệ, vàng, còn công dân Việt Nam không làm thế được. Hàng hóa trước những năm Liên Xô tan rã rất khan hiếm. Mọi thứ mua đều phải xếp hàng, hoặc lấy tích kê chờ. Muốn mua được mấy thứ trong nước cần thì phải tới các thành phố lớn. Mỗi lần cửa hàng cũng chỉ bán cho hai hoặc ba cái. Nhiều khi phải mua giá chợ đen cho xong chuyện. Tôi có mối quan hệ với Trung Á từ trước, nên thường xuyên qua lại nơi đây. Vùng này ít người Việt, chậu nhôm, nồi áp suất, bàn là... tương đối sẵn. Mỗi lần có hàng tôi phải đáp máy bay tới. Mua xong ra ga tàu hỏa gửi và bay về luôn.

     Những người đi học, lao động hay công tác tại Liên Xô ngày ấy. Ngoài việc làm tròn việc học tập, công tác chuyên môn của mình, còn phải lo kiếm ít hàng, làm lưng vốn cho cuộc sống sau này. Nhìn bề ngoài, có vẻ vênh vang. Nhưng thực tế họ phải lo lắng và làm việc quần quật từ 12 đến 14 tiếng mỗi ngày. Có thể nói, công dân Việt Nam từ người lao động, sinh viên đến nghiên cứu sinh... đã hội nhập vào nền kinh tế thị trường của những năm cuối cùng trước khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tan rã.
TNT