/Lẽ đời thấu hết nông sâu. Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy./ Thơ Võ Văn Trực

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

TRẦM MẶC CỐ ĐÔ KYOTO - Bút ký của Ngọc Tô

Những kỷ niệm đẹp này đã in vào trong tâm trí và thôi thúc tôi quay trở lại nơi đây một ngày không xa!

TRẦM MẶC CỐ ĐÔ KYOTO - Bút ký của Ngọc Tô

     Chúng tôi đang đắm mình trong mùa thu vàng Tokyo, muôn cây ngân hạnh đang chuyển sang màu vàng sẫm, bao con đường rực rỡ xào xạc lá bay. Nơi đây còn hút hồn tôi bởi những tòa lâu đài cổ kính, những công trình kiến trúc hiện đại và nhịp sống năng động của thành phố bậc nhất châu Á này. Thời gian như đang níu kéo các thành viên trong đoàn lại theo từng nhịp bước, nhưng lịch trình đã định, sáng nay anh em dậy sớm chuẩn bị gửi đồ để đi cố đô Kyoto. Buổi sáng mùa thu ở Tokyo khá mát mẻ, đúng tám giờ chiếc xe ca chở các thành viên ra ga tàu cao tốc. Khi đã vào ga rồi, nhưng hướng dẫn viên Ngô Văn Viễn có gần bốn mươi năm ở đây vẫn hết nhìn ngang lại ngó dọc sơ đồ và không biết bao nhiêu lần anh đã dẫn đoàn đi như thế này rồi, nhưng cuối cùng cũng phải vào hỏi nhân viên trực ca ở đây. Có lẽ nhà ga quá lớn, nhiều tuyến đường sắt chằng chịt qua lại như mắc cửi. Khi còn ở bên Nga qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi đã biết về hệ thống tàu cao tốc của xứ sở Phù Tang, nhưng nay mới được tận mắt chứng kiến. Sau khi lấy vé xong, chúng tôi qua cổng kiểm soát vé tự động và ra khu vực chờ tàu. Hơn chục phút sau các thành viên lên toa số 4 tàu cao tốc đi Kyoto. Không biết mọi ngày có đông khách không, chứ hôm nay thì từ Tokyo đi còn một vài chỗ trống. Tàu cao tốc ở đây cũng na ná như tàu từ Paris đi Luân Đôn qua vịnh Măng sơ, nhưng một trăm phần trăm được chế tạo tại Nhật. Mỗi một hàng ghế ngang có năm chỗ ngồi, một bên bố trí ba, một bên hai ghế và lối đi ở giữa. Nếu ai đã đi máy bay thì cách bố trí ở đây giống như chỗ ngồi của vé hạng nhất. Tôi đổi chỗ cho Bình Phạm, ra ngoài cùng để quan sát và quay camera. Nhưng khi khởi hành rồi thì không ghi hình được nữa vì tàu chạy với tốc độ chóng mặt, khoảng gần ba trăm ki-lô-mét trên giờ. Con tàu lùi dần khỏi nội đô Tokyo và khu vực ven đô hiện ra một sắc màu mùa thu kỳ diệu: “Tàu trôi về phía heo may. Lang bang miền đất chứa đầy hồn thu”. Trên tàu, mấy bạn sang đây chưa quen khí hậu trông vẻ khá mệt mỏi, vừa mới ngồi vào ghế đã chìm vào giấc mộng ngon lành.

     Từ thủ đô Tokyo đến cố đô Kyoto, tàu chạy mất khoảng hai tiếng rưỡi vì dọc đường còn phải dừng lại một số ga phụ đón, trả khách. Tàu cao tốc Shinkansen của Nhật chạy khá êm và trước đây là phương tiện vận tải đường sắt có tốc độ cao nhất thế giới, nhưng nay hệ thống cao tốc Đài Loan đã chiếm đoạt ngôi vị. Nếu không có hệ thống tàu này thì lượng người qua lại hai thành phố mất rất nhiều thời gian.

      Lịch sử sự ra đời của hệ thống tàu cao tốc nơi đây có từ năm 1964, khi Tokyo được đăng cai Olympic châu Á. Để thế giới quên đi hình ảnh “phát xít Nhật”, quốc gia này muốn thế giới có cái nhìn khác đối với người dân xứ sở Phù Tang và nhân cơ hội đó họ phát triển ngành du lịch với bạn bè khắp năm châu. Hệ thống hàng không thì không thể đáp ứng được, nên người ta đã tiến hành nâng cấp hệ thống tàu cao tốc để tới miền Tây Nhật Bản. Lúc đầu tốc độ tàu chỉ đạt trên một trăm sáu mươi ki-lô-mét trên giờ, sau đó các chuyên gia áp dụng nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật và dần dà có được vận tốc như ngày nay. Người Nhật rất quan tâm tới an toàn giao thông nên họ không bằng mọi giá để có được được tốc độ cao. Từ khi có tuyến đường này tới nay chưa có những tai nạn lớn hy hữu nào xảy ra, đó mới là điều Việt Nam cần học tập. Trên tàu có toa nhà ăn và nhân viên phục vụ hành khách như cà phê, bánh kẹo, nước uống… bằng xe đẩy.
.

Ngọc Tô (trái) trước chùa Vàng (Nhật Bản)

     Quan sát hai bên đường dọc từ Tokyo tôi thấy cứ hết thị trấn này đến thị trấn khác, không có vùng nào kiến trúc dạng nông thôn như ở Trung Quốc hay Việt Nam. Vì ở Nhật dân cư đông, đất đai lại hạn hẹp. Chúng tôi cũng không gặp những cánh đồng bất tận hay những cánh rừng ôn đới… như khi qua Nga, Trung Quốc. Đúng như nhiều quan chức sang đây về kể lại: “Nhật Bản không có nông thôn”... Mải mê câu chuyện, Kyoto đã hiện ra. Cố đô này không có những tòa nhà chọc trời, những khu giải trí hiện đại, những bãi biển lý tưởng, nhưng Kyoto hấp dẫn du khách bởi nền văn hóa truyền thống được bảo tồn giữ gìn hơn một thiên niên kỷ đã qua. Chúng tôi tới đây đúng vào dịp bắt đầu lễ tôn vinh lịch sử cố đô. Với diện tích bốn ngàn sáu trăm mười hai ki-lô-mét vuông và trên hai triệu sáu dân, Kyoto ngày nay là hiện thân của Nhật Bản cổ xưa huyền thoại. Hơn một nửa số đền chùa miếu mạo, lâu đài nguy nga cổ kính của Nhật đều tập trung ở cố đô này, trong đó có mười bốn đền đài nằm trong danh sách di sản thế giới được UNESCO công nhận. Hơn một ngàn bảy trăm kho báu và những tài sản văn hoá quốc gia quan trọng đã được Chính phủ Nhật phê chuẩn. Đó là nét quyến rũ du khách đến đây để tìm hiểu về lịch sử con người, mảnh đất của cố đô. Kyoto còn nổi tiếng là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị toàn cầu có Nghị định thư về khí thải nhà kính năm 1997.

     Sau khi rời ga, chúng tôi cuốc bộ theo hướng dẫn viên đến điểm hẹn. Xung quanh khu vực này, chỗ nào cũng có siêu thị. Có lẽ đây là cách phục vụ tốt nhất để hành khách mua sắm, đỡ tiêu tốn thời gian. Giá cả ở đây được niêm yết sẵn, hàng hóa phong phú, đa dạng, có cả sản xuất ở nước ngoài và ở Nhật. Chứ ở Hoa Kỳ thì đồ dùng hầu như một trăm phần trăm là của các nước khác trên khắp thế giới. Sau mấy phút đợi chờ, chúng tôi lên xe đi ăn trưa và tiếp tục cuộc hành trình tới thẳng Kinkaku - Ji tức chùa Gác Vàng, một thắng cảnh nổi tiếng ở cố đô. Khi tới khu vực chùa ta có cảm giác gần giống như tới khu vực quần thể di tích thắng cảnh Yên Tử, Quảng Ninh. Mọi người qua đây đều phải mua vé tham quan. Bước chân qua mái cổng vòm cong cũ kỹ vào một con lộ nhỏ được trải sỏi. Cũng giống như các ngôi chùa ở nhiều nơi, không khí ở đây khá trong lành, không gian tĩnh mịch. Ta có cảm giác đang lạc vào chốn bồng lai với những rừng cổ thụ xanh mướt đẹp đến nao lòng. Khi tới tấm biển cổng chùa, có mấy cô gái Nhật đang chụp ảnh cho nhau, thì Bình Phạm nhanh chân bước vào đứng chung với các em, tôi nhanh tay chớp cho mấy kiểu khá lý thú. Cuốc bộ một đoạn không xa thì chùa Gác Vàng hiện ra trước mặt. Có lẽ diện tích chùa vào khoảng chừng hai trăm mét vuông, được nằm trên một chiếc hồ xanh thơ mộng. Hồ này nước khá trong và có rất nhiều cá, đặc biệt là cá chép, có con đến dăm kí lô, chúng nổi mình trên mặt nước đớp mồi như chờ chủ nhân đến cho ăn. Ngôi chùa có ba tầng, mỗi một tầng được thiết kế với một cách thức kiến trúc khác nhau, nhưng đều vuông hòm sắc cạnh, rất tinh xảo, mang tính nghệ thuật cao. Mặt tiền tầng một giữ nguyên màu gỗ nâu trầm mặc, hai mặt trái phải và sau là những ô chữ nhật màu trắng trong khung gỗ nâu. Còn tầng hai và tầng ba được dát vàng ròng lộng lẫy. Trên đỉnh có một chim phượng đang dang đôi cánh đậu trên một chiếc đế tam cấp vuông, toàn bộ từ bậc thứ hai trở lên cũng được dát vàng rực rỡ. Lúc này trời sang cuối thu, ngôi chùa kiêu kỳ đang soi mình xuống mặt hồ tĩnh lặng, cộng với không gian lung linh huyền ảo nơi đây làm thành bức tranh thủy mặc kỳ bí liêu trai. Nhìn rộng ra một chút nơi đây là núi đồi, được phủ toàn bộ không gian xanh và khu vực gần chùa phần nhiều là tùng bách. Cảnh quan nơi đây không chỉ thay đổi theo từng mùa mà còn theo từng tháng thậm chí thay đổi theo từng ngày, từng giờ. Mọi du khách đến tham quan chỉ đứng xung quanh chùa chiêm ngưỡng và thoải mái chụp ảnh quay camera, ngoại trừ Tổng thống Mỹ George W. Bush một lần tới và được vào trong thăm viếng.

     Vào thời điểm chúng tôi tới đây phần lớn là du khách Nhật, đặc biệt có rất nhiều các cháu học sinh phổ thông. Có lẽ do kinh tế thế giới đang gặp khó khăn và quan hệ Trung Nhật trục trặc bởi tranh chấp biển đảo, nên khách nước ngoài tới đây không nhiều. Tôi có hỏi hướng dẫn viên Ngô Văn Viễn và được biết: Theo luật, nhà trường phải có trách nhiệm cho các cháu được tham quan miễn phí tại những danh lam thắng cảnh nổi tiếng và đây cũng là biện pháp giáo dục về ý thức con người, về thuần phong mỹ tục, về truyền thống lịch sử dân tộc... Thế mới biết cách giáo dục của bạn khác với cách giáo dục của ta. Được chiêm ngưỡng ngôi chùa tráng lệ, một kỳ quan nổi tiếng như thế này, nhưng có phải ai cũng biết về lịch sử xa dài, sự thăng trầm của ngôi chùa này đâu. Theo bút tích còn lưu lại, nơi đây là chốn nghỉ ngơi của tướng quân Yoshimitsu Ashikaga được xây dựng năm 1397, nhưng sau khi ông qua đời vào năm 1408 và con ông đã đổi thành chùa và thiền viện cho tín đồ Phật giáo phái Lâm Tế. Trong cuộc chiến Onin (1467 - 1477) chùa bị cháy trụi nhưng rồi được phục dựng lại. Gần nửa thiên niên kỷ sau, vào năm 1950 chùa Gác Vàng bị một nhà sư đốt cháy. Sau đó nhà tu hành này bèn tự tử nhưng bị nhà chức trách bắt. Mẹ nhà sư cũng bị tra hỏi. Trên đường về, bà nhảy từ tàu hỏa, gieo mình xuống sông tự vẫn, còn nhà sư bị tuyên phạt bảy năm tù và chết trong trại giam năm 1956. Năm 1987 nhà chùa được dát thêm lớp vàng mới, sửa chữa lại nội thất và năm 2003 thì trùng tu phần mái như ngày nay. Qua đây ta thấy Phật giáo đã thâm nhập vào Nhật từ khá lâu và chùa Gác Vàng là một biểu tượng về tinh thần và còn là di tích của đạo Phật.

     Tiếp theo đó xe đưa chúng tôi tới tham quan một địa điểm khá nổi tiếng nữa ở cố đô đó là chùa Otwasan Kiyomizu là ngôi chùa thờ Quan Âm nghìn tay. Từ kiyomizu có nghĩa là nước thiêng nên ngoài ra chùa còn có tên là Thanh Thủy hay là chùa Gỗ vì nó được kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ. Otwasan Kiyomizu là ngôi chùa bằng gỗ cổ nhất thế giới, đẹp nhất Kyoto và năm 1994 được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Trời lúc này đã sang chiều, nhưng dòng người tới tham quan cứ dài theo không ngớt. Khác với vị thế của chùa Gác Vàng, chùa này được nằm trên vị trí cao hơn hẳn. Từ thung lũng nhìn lên thấy ngôi chùa như đang treo lơ lửng trên tầng không giữa muôn ngàn cây lá um tùm đang ngả dần sang màu vàng, màu đỏ thật mê hoặc. Dọc theo con đường dốc thoai thoải khoảng gần nửa ki-lô-mét dẫn lên chùa là san sát những quán bán đủ thứ hàng truyền thống của cố đô như quạt giấy, búp bê, áo kimono, guốc gỗ, ô, gốm sứ và nhiều món ẩm thực truyền thống của Nhật. Tôi có cảm giác hình như phố cổ Hội An cũng có nét hao hao nơi đây. Khi đi hết khu vực bán đồ lưu niệm, mọi người phải leo mấy chục bậc tam cấp mới tới cổng chính Niomon (cổng Nhị Vương). Cổng này nằm ở phía tây của chùa được trùng tu lại năm 2003 với kích thước bề ngang chính diện mười mét, bề sâu bốn mét tám, cao tám mét rưỡi, trước đây làm bằng sơn mài nên cũng có tên gọi là cổng đỏ. Sau khi qua Nhị Vương là một con đường uốn cong dẫn vào chính đường và phía trước chính đường còn có nhiều hạng mục khác như tháp ba tầng… Tại khu vực này có treo nhiều tấm bùa gỗ và rất nhiều các thiếu nữ Nhật vào đây chụp ảnh. Mấy anh em chúng tôi dù tiếng Nhật chỉ võ vẽ một vài từ, nhưng cũng mời được mấy “geisha” vào chụp chung, rồi cùng nhau vào trong. Nhìn qua sảnh trái chùa có nhiều phụ nữ Nhật trật tự xếp hàng, tôi ngó đầu vào xem, thì ra ở đây cũng bán thẻ sớ giống như ở nước ta. Chính đường là một tòa nhà bằng gỗ được trùng tu lại mất mười năm từ năm 1633 với kích thước mặt tiền ba mươi sáu mét, ngang ba mươi mét và cao trần là mười tám mét. Chùa được phân ra làm ba khu dựa vào các hàng cột, phía trước chính đường là một khoảng ban công rộng chừng chín chục mét vuông, bên dưới được chống đỡ bởi rất nhiều cột gỗ cao tới mười hai mét tạo nên một đặc điểm nổi bật không giống một ngôi chùa nào trên thế giới. Tất cả các chi tiết bắt vào nhau đều dùng mộng cá, không dùng đinh. Tôi nói đùa với mấy bạn: “Mấy kiến trúc sư Nhật học mót cách kiến trúc của đình Cung Chúc quê tôi, cả ngôi đình bằng gỗ lim, nhìn tất cả bốn hướng đều năm gian mà chỉ có mười sáu lỗ đục, mà người ta chỉ dựng một đêm là xong”. Mọi người tỏ ý thán phục. Chùa Thanh Thủy còn được bao quanh bởi vô số cây maple và cây anh đào. Khu chùa đẹp nhất vào mùa xuân khi hoa anh đào nở rộ và bây giờ đang thu khi lá maple ngả dần sang màu đỏ. Trong khuôn viên chùa còn có con suối Otowa với ba dòng nước trường thọ, đỗ đạt và hạnh phúc. Ta có thể uống nước của một trong ba dòng ấy nhưng không nên uống nước của cả ba vì sẽ bị coi là tham lam. Mấy anh em dùng gáo múc nước rửa mặt rồi uống cầu may. Nơi đây có một bức tượng phỗng cũng có mục “xoa đầu cậu” để mong có con trai. Thế mới biết phong tục tập quán của Nhật và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng.

     Trong chùa có đền Jishu thờ thần Tình Yêu, ở đó có hai tảng đá nhỏ đặt cách nhau chừng mười tám mét. Nam thanh nữ tú đến đền Jishu thường nhắm mắt, đi từ tảng đá này tới tảng đá kia. Ai tới đích nhất định sẽ tìm được một nửa còn lại của đời mình. Nhiều người mộ đạo còn tin rằng: Nhảy từ chùa xuống chân đồi sâu khoảng hai mươi mét, nếu sống sót sẽ sống lâu, mạnh khỏe. Trước khi bị cấm hẳn vì nguy hiểm, đã có hai trăm ba mươi tư người cuồng tín thực hiện hành động liều lĩnh này và ba mươi tư người đã về với cõi vĩnh hằng.

    Trời về chiều, những tia nắng vàng yếu ớt đang sõng soài nằm trên mái chùa. Kiyomizu khoác lên mình chiếc áo dệt màu đỏ rực rỡ đến lạ lùng bằng hàng ngàn vạn cây phong đang vào cuối thu. Chúng tôi phải nhanh chóng ra điểm hẹn để trở lại thành phố. Hai bên lối ra hàng lưu niệm bày bán la liệt, phong phú về chủng loại mẫu mã, nhưng so với hàng hóa Việt thì giá khá là mắc, chắc mọi người chỉ mua ít dưa chua hoặc đồ gốm sứ về làm kỷ niệm. Khi ra khu vực chờ thì đã thấy mọi người tập hợp đông đủ. Thời gian ở Kyoto không nhiều, những gì tôi đã cảm, đã gặp với con người và mảnh đất nơi đây mới hiểu được tính cách và nền văn hóa của một quốc gia thịnh vượng. Lịch trình của đoàn quá ngắn ngủi, chúng tôi chưa có dịp để tới khám phá những địa danh nổi tiếng khác như khu Gion, phố vòm Shinkyogoku, khu Arashiyama hay Kibune... Những kỷ niệm đẹp này đã in vào trong tâm trí và thôi thúc tôi quay trở lại nơi đây một ngày không xa!

Ngọc Tô