/Bỗng hôm nay trước cửa bóng trăng quỳ. Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu/ Thơ Hàn Mặc Tử

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

AN TRẤN ĐẠI VƯƠNG (TƯỚNG QUÂN KIM AN)

Câu trả lời đúng hay sai giành cho các nhà nghiên cứu và độc giả?

AN TRẤN ĐẠI VƯƠNG (TƯỚNG QUÂN KIM AN)
.

       “Mảnh đất vua ban” được mang tên Cựu Điện, nay là thôn Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, từng trải qua nhiều thăng trầm trong dòng chảy lịch sử - văn hóa của miền quê lúa nước sông Hồng. Thời Tiền Lê mảnh đất nơi đây còn hoang hóa thuộc đạo Hồng Châu, nơi đây đã có một số cư dân từ nơi khác tới khai hoang lập đất. Đến khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long thì nhà vua và “Thiên tử” các đời tiếp theo luôn quan tâm tới việc khai khẩn mở mang bờ cõi, đặc biệt là các vùng đất mới ven biển và phát triển lực lượng vũ trang để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt.

        Theo thần phả của “mảnh đất vua ban” nơi đây thì vào đời vua Lý Thái Tông ở trang Vĩnh Thiệu, châu Thiệu Thiên, lộ Thanh Hóa có một gia đình phú nông, người chồng tên là Kim Yến, còn vợ là Nguyễn Thị thuộc dòng dõi thi lễ, hiển đạt. Hai vợ chồng luôn lấy đức làm trọng, thường xuyên giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh, nghèo hèn. Tuy tuổi đã cao, nhưng ông bà vẫn chưa có một mụn con để nối dõi tông đường. Ông chồng thường ca thán rằng: “Với ta núi vàng biển lúa coi khinh như cỏ rác, chỉ có con thảo cháu hiền mới thực sự là ngọc là vàng. Ông liền xuất tiền bạc của mình đi làm phúc, giúp những người nghèo khó, tôn tạo lại những danh lam thắng cảnh, đền, chùa ở nhiều miền quê khác nhau. Một ngày kia ở núi Mộ Dạ, phủ Nghệ An có một ngôi đền rất thiêng, ước gì được đấy, ông bà liền lặn lội tới đây để cầu khấn: “Vợ chồng tôi trên cõi dương gian này thì tiền tài chỉ là phù vân, con cái là quý nhất, mong các ngài phù hộ độ trì, ban phúc lành cho chúng tôi được sở cầu như ý.

        Đêm hôm ấy vào cuối canh ba, đang say sưa giấc nồng, bỗng có một một ông già tiên râu tóc bạc phơ, đi từ ngoài vào và nói: “Nhà khanh đức dày, phúc lớn được trời soi xét và ban cho nguyện vọng, khanh chớ có buồn rầu, sau đó đưa cho ông Kim Yến một mảnh giấy với bốn câu thơ: 

夫妻行走耐塵間
求恳誠心透玖重
壬午良時從日月
有生貴子別容光

Phiên âm:

Phu thê hành tẩu nại trần gian

Cầu khẩn thành tâm thấu cửu trùng 

Nhâm Ngọ lương thời tòng nhật nguyệt

Hữu sinh quý tử biệt dung quang

Dịch thơ: 

Vợ chồng lặn lội khắp trần gian

Lời khấn vọng lên tận Ngọc Hoàng

Ngày lành tháng tốt năm Nhâm Ngọ

Quý tử sinh thành rạng vẻ quan?

       Khi ông đọc xong bài thơ thì thần tiên biến mất, tỉnh dậy mới biết là mình vừa trải qua giấc mơ diệu kỳ. Bán tín bán nghi ngay sáng hôm sau vợ chồng ông làm lễ bái tạ. Đêm hôm sau bà vợ thấy dòng sao chảy vào miệng, rồi bà thuật lại với chồng và ông cho  là điềm lành. Liền đó bà mang thai và sau mười ba tháng, đúng ngày 10 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1042) có dải mây hồng phủ trên mái nhà và bà sinh được bé trai kháu khỉnh, khỏe mạnh, thể diện khác thường: Lông mày vua Nghiêu, mắt tựa vua Thuấn. Ông biết là nhân thần xuất hiện, nên càng yêu quý con hơn và đặt tên là An. Khi cậu bé mới một tuổi đã nói sõi, biết lễ nghĩa. Càng lớn Kim An càng thông minh, nên lúc sáu tuổi ông đã mời thày về dạy học cả văn lẫn võ. Năm Kim An mười sáu tuổi, thiên tư vượt trội, học lực tinh thông, thuộc lòng cả cuốn “Vũ kinh thất thư”.

        Cha mẹ nhờ người mai mối kén vợ cho con, nhưng Kim An cũng chẳng màng, chỉ cắm đầu vào học tập và rèn luyện võ thuật. Ngoài ra Kim An còn thích đi chu du thiên hạ, tìm hiểu cuộc sống của thần dân. Năm hai mươi tuổi thì cha mẹ qua đời, Kim An giờ chỉ còn một mình, nên anh càng ra sức luyện rèn và sau lễ đoạn tang bố mẹ thì gia nhập quân ngũ.

        Ngày ấy Đại Việt mới có chừng ba triệu dân, luôn bị giặc giã hoành hành, quấy phá, nên nhà Lý luôn chú trọng xây dựng lực lượng quốc phòng, sẵn sàng chống lại các thế lực xâm lăng từ ngoại bang. Lực lượng vũ trang thời ấy được tổ chức theo nguyên tắc Thân quân với lực lượng thường trực chuyên nghiệp và Sương quân với lực lượng bán chuyên nghiệp. Kim An được phục vụ trong lực lượng “Ngụ binh ư nông” (lính gửi trong dân) bán chuyên nghiệp…Nhìn chung quân đội nhà Lý đã đạt đến một trình độ tổ chức và huấn luyện khá cao. Được phiên chế thành các đơn vị như: Quân, vệ và bao gồm các binh chủng như bộ binh, thủy binh, kỵ (ngựa) binh, tượng (voi) binh. Trang bị cho quân đội, ngoài các loại vũ khí như cung, nỏ, giáo mác, khiên… và còn thêm máy bắn đá.

        Rồi vào năm Thần Vũ thứ 3 (1072) thì vua Lý Thánh Tông đột nhiên qua đời, Thái tử Càn Đức (Lý Nhân Tông) mới bảy tuổi lên ngôi, nên sau đó mọi việc triều chính do Hoàng Thái hậu Ỷ Lan nhiếp chính.

        Lại nói vào thời gian này, quân Chiêm Thành gây loạn, quấy nhiễu vùng biên thùy Tây Nam. Còn trên phía Bắc thì Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là “Giao Chỉ đánh Chiêm Thành vừa bị thất bại, quân không còn một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ vào thời điểm này là thích hợp.

       Sau đó một thời gian, vua Tống Thần Tông phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây Kinh lược sứ lo việc xuất quân. Thẩm Khởi đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ năm mươi hai động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến. Nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát tấn công Đại Việt. Đặc biệt sau đó có một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã ngầm báo cho nhà Lý, bởi thế Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống.

        Nhận được tin khẩn cấp, vua Đại Việt còn trẻ nên rất lo lắng, liền cho hội quần thần nghị bàn kế sách chống cự lại quân địch. Lúc đó Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Lý Đạo Thành đứng lên tâu rằng: “Bệ hạ có uy đức lớn vượt ngoài bể rộng, có nước giàu, binh mạnh lại có lòng trời phù hộ, Đại Việt thường có các anh tài xuất thế. Nay cử Lý Thường Kiệt làm thượng tướng quân, đem quân tuần phòng các nơi, gây thanh thế cho ba quân và đề phòng bất trắc xảy ra. Mặt khác xuống chiếu tuyển anh tài, mộ hương binh cùng đánh giặc thì bệ hạ còn gì phải âu lo nữa. Thần tự nguyện đảm nhận việc tuyển chọn tướng tài ra trận, giặc Tống bất quá một vài tuần là dẹp xong”.

        Nghe đến đây, vua rất mừng, lập tức hạ chiếu cho các lộ, phủ tuyển mộ anh tài, phong quan tước cho người cầm quân đánh giặc. Nghe theo chiếu gọi, Kim An liền đến ứng tuyển với việc đối đáp lưu loát, văn võ toàn tài, ai cũng ngợi khen, được vua ban chức Hữu chỉ huy sứ. Kim An cúi đầu bái tạ vua và nhận quan tước, lĩnh quân tuần phòng cánh quân Đông Bắc. Nhà vua liền ứng đọc bốn câu thơ:

三軍澟澟一重關
萬里山河不可難
報國安民惟決志
孝忠两事以雙全

Phiên âm:

Tam quân lẫm lẫm nhất trùng quan

Vạn lý sơn hà bất khả nan

Báo quốc an dân duy quyết chí

Hữu trung lưỡng sự khả song toàn

Dịch thơ:

Ba quân lẫm liệt tới trùng quan

Muôn dặm sơn hà chẳng ngại nan

Báo quốc an dân ghi tạc dạ

Hiếu trung hai chữ giữ song toàn.

       Vào năm Thái Ninh thứ 4 (1075) Hữu chỉ huy sứ Kim An cho quân khởi hành, cờ lệnh tung bay phấp phới hàng trăm dặm, trên thuyền bè chiêng trống vang dậy cả một vùng. Khi qua khúc hạ lưu sông Thái Bình thấy mảnh đất bên triền Hữu có phong thủy khá tốt, phong cảnh hữu tình, lại có nhiều hồ ao tiện dụng sinh hoạt, ông quyết định lập doanh trại. Các phụ lão và thôn dân nơi đây vui mừng khôn xiết, đã làm lễ đón rước trọng thị. Rất nhiều thanh niên trai tráng quanh vùng xin gia nhập nghĩa quân và riêng trang này đã góp cho nghĩa quân hơn hai mươi lính.

       (còn nữa)