/Bỗng hôm nay trước cửa bóng trăng quỳ. Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu/ Thơ Hàn Mặc Tử

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

AN TRẤN ĐẠI VƯƠNG (TƯỚNG QUÂN KIM AN)

Câu trả lời đúng hay sai giành cho các nhà nghiên cứu và độc giả?

AN TRẤN ĐẠI VƯƠNG (TƯỚNG QUÂN KIM AN)
.

       “Mảnh đất vua ban” được mang tên Cựu Điện, nay là thôn Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, từng trải qua nhiều thăng trầm trong dòng chảy lịch sử - văn hóa của miền quê lúa nước sông Hồng. Thời Tiền Lê mảnh đất nơi đây còn hoang hóa thuộc đạo Hồng Châu, nơi đây đã có một số cư dân từ nơi khác tới khai hoang lập đất. Đến khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long thì nhà vua và “Thiên tử” các đời tiếp theo luôn quan tâm tới việc khai khẩn mở mang bờ cõi, đặc biệt là các vùng đất mới ven biển và phát triển lực lượng vũ trang để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt.

        Theo thần phả của “mảnh đất vua ban” nơi đây thì vào đời vua Lý Thái Tông ở trang Vĩnh Thiệu, châu Thiệu Thiên, lộ Thanh Hóa có một gia đình phú nông, người chồng tên là Kim Yến, còn vợ là Nguyễn Thị thuộc dòng dõi thi lễ, hiển đạt. Hai vợ chồng luôn lấy đức làm trọng, thường xuyên giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh, nghèo hèn. Tuy tuổi đã cao, nhưng ông bà vẫn chưa có một mụn con để nối dõi tông đường. Ông chồng thường ca thán rằng: “Với ta núi vàng biển lúa coi khinh như cỏ rác, chỉ có con thảo cháu hiền mới thực sự là ngọc là vàng. Ông liền xuất tiền bạc của mình đi làm phúc, giúp những người nghèo khó, tôn tạo lại những danh lam thắng cảnh, đền, chùa ở nhiều miền quê khác nhau. Một ngày kia ở núi Mộ Dạ, phủ Nghệ An có một ngôi đền rất thiêng, ước gì được đấy, ông bà liền lặn lội tới đây để cầu khấn: “Vợ chồng tôi trên cõi dương gian này thì tiền tài chỉ là phù vân, con cái là quý nhất, mong các ngài phù hộ độ trì, ban phúc lành cho chúng tôi được sở cầu như ý.

        Đêm hôm ấy vào cuối canh ba, đang say sưa giấc nồng, bỗng có một một ông già tiên râu tóc bạc phơ, đi từ ngoài vào và nói: “Nhà khanh đức dày, phúc lớn được trời soi xét và ban cho nguyện vọng, khanh chớ có buồn rầu, sau đó đưa cho ông Kim Yến một mảnh giấy với bốn câu thơ: 

夫妻行走耐塵間
求恳誠心透玖重
壬午良時從日月
有生貴子別容光

Phiên âm:

Phu thê hành tẩu nại trần gian

Cầu khẩn thành tâm thấu cửu trùng 

Nhâm Ngọ lương thời tòng nhật nguyệt

Hữu sinh quý tử biệt dung quang

Dịch thơ: 

Vợ chồng lặn lội khắp trần gian

Lời khấn vọng lên tận Ngọc Hoàng

Ngày lành tháng tốt năm Nhâm Ngọ

Quý tử sinh thành rạng vẻ quan?

       Khi ông đọc xong bài thơ thì thần tiên biến mất, tỉnh dậy mới biết là mình vừa trải qua giấc mơ diệu kỳ. Bán tín bán nghi ngay sáng hôm sau vợ chồng ông làm lễ bái tạ. Đêm hôm sau bà vợ thấy dòng sao chảy vào miệng, rồi bà thuật lại với chồng và ông cho  là điềm lành. Liền đó bà mang thai và sau mười ba tháng, đúng ngày 10 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1042) có dải mây hồng phủ trên mái nhà và bà sinh được bé trai kháu khỉnh, khỏe mạnh, thể diện khác thường: Lông mày vua Nghiêu, mắt tựa vua Thuấn. Ông biết là nhân thần xuất hiện, nên càng yêu quý con hơn và đặt tên là An. Khi cậu bé mới một tuổi đã nói sõi, biết lễ nghĩa. Càng lớn Kim An càng thông minh, nên lúc sáu tuổi ông đã mời thày về dạy học cả văn lẫn võ. Năm Kim An mười sáu tuổi, thiên tư vượt trội, học lực tinh thông, thuộc lòng cả cuốn “Vũ kinh thất thư”.

        Cha mẹ nhờ người mai mối kén vợ cho con, nhưng Kim An cũng chẳng màng, chỉ cắm đầu vào học tập và rèn luyện võ thuật. Ngoài ra Kim An còn thích đi chu du thiên hạ, tìm hiểu cuộc sống của thần dân. Năm hai mươi tuổi thì cha mẹ qua đời, Kim An giờ chỉ còn một mình, nên anh càng ra sức luyện rèn và sau lễ đoạn tang bố mẹ thì gia nhập quân ngũ.

        Ngày ấy Đại Việt mới có chừng ba triệu dân, luôn bị giặc giã hoành hành, quấy phá, nên nhà Lý luôn chú trọng xây dựng lực lượng quốc phòng, sẵn sàng chống lại các thế lực xâm lăng từ ngoại bang. Lực lượng vũ trang thời ấy được tổ chức theo nguyên tắc Thân quân với lực lượng thường trực chuyên nghiệp và Sương quân với lực lượng bán chuyên nghiệp. Kim An được phục vụ trong lực lượng “Ngụ binh ư nông” (lính gửi trong dân) bán chuyên nghiệp…Nhìn chung quân đội nhà Lý đã đạt đến một trình độ tổ chức và huấn luyện khá cao. Được phiên chế thành các đơn vị như: Quân, vệ và bao gồm các binh chủng như bộ binh, thủy binh, kỵ (ngựa) binh, tượng (voi) binh. Trang bị cho quân đội, ngoài các loại vũ khí như cung, nỏ, giáo mác, khiên… và còn thêm máy bắn đá.

        Rồi vào năm Thần Vũ thứ 3 (1072) thì vua Lý Thánh Tông đột nhiên qua đời, Thái tử Càn Đức (Lý Nhân Tông) mới bảy tuổi lên ngôi, nên sau đó mọi việc triều chính do Hoàng Thái hậu Ỷ Lan nhiếp chính.

        Lại nói vào thời gian này, quân Chiêm Thành gây loạn, quấy nhiễu vùng biên thùy Tây Nam. Còn trên phía Bắc thì Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là “Giao Chỉ đánh Chiêm Thành vừa bị thất bại, quân không còn một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ vào thời điểm này là thích hợp.

       Sau đó một thời gian, vua Tống Thần Tông phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây Kinh lược sứ lo việc xuất quân. Thẩm Khởi đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ năm mươi hai động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến. Nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát tấn công Đại Việt. Đặc biệt sau đó có một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã ngầm báo cho nhà Lý, bởi thế Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống.

        Nhận được tin khẩn cấp, vua Đại Việt còn trẻ nên rất lo lắng, liền cho hội quần thần nghị bàn kế sách chống cự lại quân địch. Lúc đó Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Lý Đạo Thành đứng lên tâu rằng: “Bệ hạ có uy đức lớn vượt ngoài bể rộng, có nước giàu, binh mạnh lại có lòng trời phù hộ, Đại Việt thường có các anh tài xuất thế. Nay cử Lý Thường Kiệt làm thượng tướng quân, đem quân tuần phòng các nơi, gây thanh thế cho ba quân và đề phòng bất trắc xảy ra. Mặt khác xuống chiếu tuyển anh tài, mộ hương binh cùng đánh giặc thì bệ hạ còn gì phải âu lo nữa. Thần tự nguyện đảm nhận việc tuyển chọn tướng tài ra trận, giặc Tống bất quá một vài tuần là dẹp xong”.

        Nghe đến đây, vua rất mừng, lập tức hạ chiếu cho các lộ, phủ tuyển mộ anh tài, phong quan tước cho người cầm quân đánh giặc. Nghe theo chiếu gọi, Kim An liền đến ứng tuyển với việc đối đáp lưu loát, văn võ toàn tài, ai cũng ngợi khen, được vua ban chức Hữu chỉ huy sứ. Kim An cúi đầu bái tạ vua và nhận quan tước, lĩnh quân tuần phòng cánh quân Đông Bắc. Nhà vua liền ứng đọc bốn câu thơ:

三軍澟澟一重關
萬里山河不可難
報國安民惟決志
孝忠两事以雙全

Phiên âm:

Tam quân lẫm lẫm nhất trùng quan

Vạn lý sơn hà bất khả nan

Báo quốc an dân duy quyết chí

Hữu trung lưỡng sự khả song toàn

Dịch thơ:

Ba quân lẫm liệt tới trùng quan

Muôn dặm sơn hà chẳng ngại nan

Báo quốc an dân ghi tạc dạ

Hiếu trung hai chữ giữ song toàn.

       Vào năm Thái Ninh thứ 4 (1075) Hữu chỉ huy sứ Kim An cho quân khởi hành, cờ lệnh tung bay phấp phới hàng trăm dặm, trên thuyền bè chiêng trống vang dậy cả một vùng. Khi qua khúc hạ lưu sông Thái Bình thấy mảnh đất bên triền Hữu có phong thủy khá tốt, phong cảnh hữu tình, lại có nhiều hồ ao tiện dụng sinh hoạt, ông quyết định lập doanh trại. Các phụ lão và thôn dân nơi đây vui mừng khôn xiết, đã làm lễ đón rước trọng thị. Rất nhiều thanh niên trai tráng quanh vùng xin gia nhập nghĩa quân và riêng trang này đã góp cho nghĩa quân hơn hai mươi lính.

        Cuộc kháng chiến chống giặc Tống được triển khai rất khẩn trương. Triều đình nhà Lý cử tướng Tôn Đản làm chỉ huy cánh quân đường bộ nhằm hướng biên giới Đông Bắc thẳng tiến, còn võ tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy cánh quân đường thủy cùng voi chiến tập trung tại châu Vĩnh An (nay là Quảng Ninh) gồm thủy lục quân tiến theo đường biển nhanh chóng chuẩn bị xuất quân.

        Ngay sáng hôm đó, sứ giả triều đình bất ngờ mang mật thư về báo cho Hữu chỉ huy sứ Kim An ngày giờ xuất quân. Đêm hôm đó các chiến thuyền cùng với quân binh, voi chiến của Đại Việt xuất kích theo đường biển cùng với quân của chủ tướng Lý Thường Kiệt nhanh chóng hướng về phía biên giới phía Đông Bắc. Từ châu Vĩnh An cánh quân đường thủy thần tốc tập kết và cấp tập đánh các châu Khâm, châu Liêm rồi Tông Đản để vây hãm châu Ung. Vào ngày cuối cùng năm Thái Ninh thứ 4 (1075), quân Đại Việt tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân nhà Tống mà không phải giao chiến một trận nào và ba ngày sau Liêm Châu cũng bị thất thủ.

       Trên các mặt trận, quân Đại Việt hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm Châu và Liêm Châu tiến lên phía Bắc. Còn đạo quân đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường chim bay cách chừng một trăm lăm mươi dặm, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía Đông Bắc, chiếm lấy Bạch Châu để chặn quân tiếp viện của nhà Tống từ phía Đông tới. Hẹn ngày mười tám tháng một, hai đạo quân sẽ cùng hội lại vây chặt lấy Ung Châu.

       Tại thành Ung Châu, quân Đại Việt phải chiến đấu tới bốn mươi hai ngày mới thắng lợi hoàn toàn, rồi lấy đá lấp sông ngăn cứu viện, tiếp tục đem quân tiến lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu nghe thấy quân Đại Việt kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn. Thấy mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về nước...

        Sau khi tiền đồn ở Ung Châu là căn cứ tập trung quân để Nam tiến bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo để quyết tâm tiến hành chiến tranh chiếm Đại Việt. Chúng cấu kết với quân Chiêm Thành và Chân Lạp để đánh từ phía Nam và phía Tây tới.  

        Vào năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 2 (1077) nhà Tống điều động tới mười vạn lính viễn chinh, một vạn ngựa cùng hai mươi vạn dân phu tấn công nước ta, nhưng chúng đã vấp phải sự kháng cự vô cùng anh dũng của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy tài tình của võ tướng Lý Thường Kiệt. Trước binh lực mạnh của nhà Tống, Lý Thường Kiệt quyết định chọn chiến lược phòng thủ là chính. Hai lần quân đội nhà Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ, nhưng cũng không thể vượt qua sông Như Nguyệt để tiến về Thăng Long. Quân Tống lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng lan, tinh thần tướng sỹ ngày càng mệt mỏi, hoang mang cộng với bệnh tật làm cho nhiều binh sỹ thiệt mạng. Lý Thường Kiệt nhận ra đây là thời cơ tốt để có thể tổ chức tiến công từng đợt, nhằm chia cắt quân địch. Kết hợp giữa thủy binh cũng như bộ binh và kỵ binh dưới sự chỉ huy tài tình của võ tướng Lý Thường Kiệt đã dồn quân đội nhà Tống lâm vào cảnh ngặt nghèo, thế phòng ngự bị lung lay và khả năng thất bại dễ xảy ra nếu vẫn tiếp tục cố thủ. Lý Thường Kiệt muốn kết thúc chiến tranh nhanh để phục hồi nền kinh tế, nên đã chủ động giảng hòa với quân đội nhà Tống. Ông còn cấp cho Quách Quỳ tàu bè và lương thực để có thể về nước. Quân dân ta giành chiến thắng, bảo vệ nền độc lập của Đại Việt. Thất bại này đã làm cho nhà Tống từ bỏ ý đồ xâm lược Đại Việt.

        Vào thời gian này, triều đình nhà Lý đưa thông cáo rằng giặc ngoại xâm đã dẹp yên, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” được ra đời, đây có thể gọi là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Nay nhà vua ban chiếu mời các tướng sỹ về kinh mở hội mừng công khen thưởng. Trong lễ mừng công Hữu chỉ huy sứ Kim An được thăng chức tướng quân, vì có nhiều công lao trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Sau đó tướng quân Kim An trở về doanh trại xưa để tạ ơn thôn dân nơi đây đã giúp đỡ ông cũng như nghĩa quân hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt là những gia thần đã tham gia nghĩa quân cùng ông chinh chiến trên các mặt trận chống giặc, trong đó nhiều người đã anh dũng hy sinh.

        Các phụ lão cùng thôn dân nơi đây tổ chức lễ chào mừng đoàn quân và tâu rằng: “Từ khi nghĩa quân về xây dựng đồn sở tại địa phương, dưới sự chỉ huy tài giỏi của tướng công, nghĩa quân đã anh dũng chiến đấu góp phần bảo vệ toàn vẹn biên cương của Đại Việt cho thôn dân được yên ổn làm ăn, kinh tế sung túc. Nhân đây xin tướng công cho phép dân làng sau này được thờ cúng ông, tưởng nhớ tới ân đức lớn hôm nay”. Nghe xong, tướng công trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng đã nhận lời và cho bày tiệc yến mời tất cả thôn dân trong trang cùng vui với tướng sỹ. Ông nói: “Phá được giặc ngoại xâm là nhờ ở lòng trời, nay bản trang tôn trọng ta muốn sau này ức niên thờ cúng, muôn đời phụng sự nhất vị, mỗi khi tế lễ phải cung thỉnh thánh phụ, thánh mẫu đồng lai giám cách”.

        Vào những năm tiếp theo trong một lần tuần tra trên vùng ven biển Đông Bắc, tướng quân Kim An đã cùng quân sỹ chiến đấu dũng cảm với thủy binh nhà Tống và điều không may xảy ra, ông đã hy sinh vào ngày 12 tháng 11. Được tin tướng quân mất, vua Lý rất đau buồn, thương tiếc và phong tước hiệu đặc biệt cho ông là An Trấn đại vương, mặc dù ông không phải tôn thất nhà Lý. Rồi cấp mảnh đất bên triền Hữu sông Thái Bình cho cư dân nơi đây và cho kinh phí để xây dựng miếu thờ cúng. Có lẽ vì vậy mà cái tên Cựu Điện được ra đời và An Trấn đại vương được vinh danh là thành hoàng làng từ thời Lý.

       Còn một số giai thoại khác cho rằng, cái tên Cựu Điện (舊甸) được đặt bởi dưới phía Nam đã có làng Thượng Điện (上殿)  là hoàn toàn chưa chính xác. Chúng tôi sơ lược tóm tắt sự ra đời của Thượng Điện như sau: Từ đầu thời Thành Thái (1890) trở về trước thì xã Nhân Giả (tổng Kê Sơn) có giáp Trung (thôn Nhân Giả hiện nay), giáp Đông (thôn Nhân Mễ ngày nay) và giáp Thượng (thôn Thượng Điện ngày nay). Đến đầu thế kỷ XX thì giáp Đông và giáp Thượng phát triển đủ cơ số dân tách ra thành xã Thượng Điện cũng thuộc tổng Kê Sơn, rồi từ sau năm 1945 xã này tách thành hai là thôn Nhân Mễ và thôn Thượng Điện. Theo bản gốc chữ Nho trong bản đồ đầu thời nhà Nguyễn cũng như các tài liệu cổ thì từ Điện (甸) trong từ Cựu điện (舊甸) có nghĩa là  phía ngoài của kinh đô, đất giáp kinh đô của vua gọi là Giao thổ (郊土), đất phía ngoài của Giao thổ gọi là Điện thổ (甸土), sau này những nơi đất được vua ban cũng gọi là Điện (甸). Còn chữ Điện (殿) của từ Thượng Điện (上殿)  có nghĩa là nơi thờ phật, hay cung vua (cung điện), cũng giống như chữ Nam (楠)của làng Nam Am (楠庵) nghĩa là cây nam, chứ không phải từ Nam (南)chỉ phương hướng (phía Nam) mà nhiều chuyên gia giải thích là chưa chính xác?

        Thời gian thấm thoắt trôi, miếu thờ An Trấn đại vương ngày càng linh ứng, hương lý kỳ mục của xã Cựu Điện sau này đã làm biểu tấu về triều và các đời vua tiếp theo đã nhiều lần phong sắc cho thần An Trấn đại vương. Các đời trước nữa chúng tôi chưa có số liệu, nhưng trước năm 1938, xã Cựu Điện còn giữ được mười bảy sắc phong thuộc các đời: Thịnh Đức 3 (1655), Vĩnh Thọ 1 (1658), Bảo Thái 2 (1721), Long Đức 2 (1733), Vĩnh Khánh 1 (1729), Vĩnh Hựu 3 (1737), Cảnh Hưng 1 (1740) và 28 (1767), Chiêu Thống 1 (1787), Quang Trung 3 (1790), Cảnh Thịnh 1 (1793), Gia Long 9 (1810), Tự Đức 10 (1857) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 4 (1910), Khải Định 9 (1924).

       Sắc phong cuối cùng của vua Khải Định vào niên hiệu Khải Định 9 (1924) với mỹ tự Quang ý Trung đẳng thần. Qua mỹ tự Quang ý, một lần nữa khảng định đây là vị dương thần, một nhân vật có thật trong lịch sử nước nhà. Năm 1977 miếu và chùa Cựu Điện được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố, năm 1994 được vinh dự xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

       Từ trước tới nay, nhiều tư liệu cổ cũng như một số thần tích thần sắc và Từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng đều ghi tên thần là An Tấn đại vương, nên chúng tôi nghĩ có thể là do nhầm lẫn với thành hoàng thôn Nhân Mễ (xã Vinh Quang) là An Tấn đại vương, tên húy là Vị, họ Lê theo Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn đánh giặc Minh, sau được phong tước vương. Bắt buộc chúng tôi phải về miếu Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo thêm một lần nữa để kiểm tra đối chiếu lại. Thông qua một người quen, mãi rồi cũng gặp được Trưởng ban khu di tích miếu Cựu Điện và qua các sắc phong đã chứng minh chính xác tên thần của tướng quân là An Trấn đại vương.

       Còn một số tài liệu đã in ở huyện Vĩnh Bảo, cũng như ở Hải Phòng và báo chí khác viết tướng quân Kim An tức Vi Thủ An là chưa đúng, vì Vi Thủ An là tộc trưởng người Tày vùng Tô Mậu thuộc phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn và một phần Quảng Ninh ngày nay. Trong trận chiến năm Thái Ninh thứ 4 (1075), Doanh trưởng Vi Thủ An theo cánh quân đường bộ do tướng Tôn Đản làm tổng chỉ huy. Sau thắng lợi bị tướng nhà Tống chiêu hàng, rồi làm nội ứng cho nhà Tống sang xâm lược nước ta. Vi Thủ An bị quân của Lý Thường Kiệt giết chết, khi làm tiên phong cho quân Tống vượt sông Như Nguyệt…

       Khi viết về An Trấn đại vương và cuộc kháng chiến chống giặc Tống do võ tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy, bao xúc cảm trong tôi được dồn nén rồi thăng hoa:

 MIẾU QUÊ

 Hẹn hò “mảnh đất vua ban”(1)

 Giữa đông lòng vẫn chói chang nắng chiều

 Tay cầm ngọn gió bồng phiêu

 Men theo lối cũ liêu xiêu bến bờ

 Miếu thiêng tôn kính phụng thờ

 Nén hương vừa thắp bất ngờ gọi danh

 Thần quê ở mãi xứ Thanh

 Vì dân vì nước thác ghềnh sá chi

 Ung Châu(2) ngày ấy khắc ghi

 Tống kia hồn lạc phách chia tơi bời

 Trận sông Như Nguyệt dậy trời

 Tuyên ngôn độc lập(3) ngời ngời từ đây

 Bồng bênh một nỗi đắng cay

 Người hòa vào biển(4) mặn ngày chát đêm

 Đất quê gìn giữ hồn thiêng

 Lời cầu kéo mảnh trời nghiêng xuống làng.

 __________

(1) Sau khi tướng Kim An hy sinh, được vua Lý ban tước An Trấn đại vương, mặc dù ông không phải tôn thất nhà Lý và cấp đất cho dân thờ phụng mang tên Cựu Điện, chữ Điện theo nghĩa Hán là “đất vua ban”

(2) Thành Ung Châu bị quân đội Đại Việt tiêu diệt sau 40 ngày công kích

(3) Bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

(4) Tướng quân hy sinh tại vùng biển Đông Bắc trong trận chiến chống giặc Tống

 @

GHI CHÚ: 

      Có một công dân người thôn Cựu Điện gọi điện thắc mắc với chúng tôi về việc bài viết đăng trên mạng hãy còn thiếu, chưa chính xác một số tư liệu so với thần tích của miếu Cựu Điện và người viết ở thế kỷ XXI có thể chính xác hơn người viết ở thế kỷ XV, XVIII hay không? Chúng tôi lại phải mất thời gian lục tìm lại thần phả của xã Cựu Điện, tổng Kê Sơn, huyện Vĩnh Lại được ghi ở phần cuối:

-         Ngày lành tháng giêng năm Hồng Phúc 1 (1572) do Hàn lâm Lễ biện Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn bản chính.

 -         Ngày lành tháng 8 năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) Quản giám Đại học sỹ Lê Trung Tái sao và soạn tiếp bản chính.

          Sau khi tra Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919) chúng tôi không thấy hai tác giả trên là Tiến sỹ Nho học vì thế không thể là Đông các Đại học sỹ được?

          Khi đọc kỹ lại phần Thần phả miếu làng Cựu Điện chúng tôi thấy các Thần phả của một số làng khác ở huyện Vĩnh Bảo đời Lý Trần cũng gần la lá như nhau:

-         Phần đầu chép theo lịch sử Đại Việt (từ thời Lý Trần trở về trước), chắc chắn do các nhà sử học của quốc gia biên soạn.

-         Phần sau (chính) do người địa phương (những người thông thạo sử của làng xã) biên soạn và bổ sung vào, nhưng thời gian viết sau vài trăm năm.

       Chúng tôi thấy có một số điều chưa chính xác về thời gian như: Vào thời Càn Đức (vua Lý Nhân Tông, sinh 1066, mất 1128), mới có vợ chồng ông Kim Yến (bố ông Kim An) và võ tướng Lý Thường Kiệt (1019 – 1105). Còn chiến tranh với nhà Tống vào năm 1075 thì lúc ấy Kim An chưa thể ra đời?

       Hoặc trong thần tích ghi nghĩa quân của Kim An sau một ngày đêm hành quân tới trang Cựu Điện, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng là chưa chính xác vì đơn vị ông là thủy binh và địa danh trên chỉ xuất hiện sau khi ông mất hơn 300 năm (thời Hậu Lê). Rồi Cựu Điện có sơn thủy hữu tình cũng chưa đúng vì cả huyện Vĩnh Bảo là đất bồi, không có núi. Rồi ở trang Vĩnh Thiệu, huyện Hương Trà, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa cũng chưa chính xác. Rồi từ đời nhà Trần đã phong thần cho ông là Thượng Đẳng thần cũng không chính xác vì người soạn thần tích chưa hiểu sắc phong của các triều đại phong kiến. Chỉ đến thời nhà Nguyễn mới chia sắc phong làm ba loại là Tôn thần (Hạ đẳng thần), Trung đẳng thần, Thượng đẳng thần, còn các triều đại khác trước đó chỉ phong thần và sắc phong cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam vào niên hiệu Khải Định 9 (1924). Chúng tôi đã kiểm tra sắc phong cuối cùng của đền Cựu Điện, ghi An Trấn đại vương được phong thần từ tôn thần lên Trung đẳng thần vào sắc phong cuối cùng của triều đình phong kiến Việt Nam.

       Qua sắc phong này cũng thể hiện ông Kim An có chức vụ không lớn, chứ không phải như nhiều thôn dân Cựu Điện nói là phó tướng của Lý Thường Kiệt? Nếu ông là phó tướng của Lý Thường Kiệt thì sử sách đã ghi và nhân dân cả nước biết tên? Ông đã được các vua nhà Nguyễn về sau đã phong Thượng đẳng thần rồi.

       Cũng giống như tại một số di tích cấp quốc gia nữa là miếu Lác (Giang Biên), thần phả cũng y trang kiểu như An Trấn đại vương, rồi ghi ông Lương Toàn được phong Đại nguyên soái sau khi đánh tan quân Nguyên là chưa đúng vì mãi tới thời Hậu Lê mới có chức danh trên, mà ông chỉ là Doanh trưởng, chỉ huy một đô (80 lính), chính vì thế tên thường gọi ông là Đô, sau được phong tướng quân (nay tương đương với Lữ đoàn trưởng).

       Hay một di tích cấp quốc gia nữa là miếu Liễu Kinh (Việt Tiến) trong thần tích có ghi: Nguyễn Chính, quê Liễu Kinh, học hành giỏi giang, đỗ trong một kỳ ứng thi của nhà Trần và được bổ làm quan Chính Tín triều chương chính sự. Khi quân Nguyên sang xâm lược lần ba (1288), ông xin được trực tiếp cầm quân đánh giặc và lập công đầu. Chúng tôi tra sách nhưng cũng không có chức danh này và lật tìm các tài liệu cổ khác cũng như Từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng xuất bản năm 1998, được biết miếu Liễu Kinh thờ thành hoàng Chính Tín. Ông sinh 10/09, hóa ngày 12/03. Theo thần tích thời Hùng Vương, Chính Tín kết bạn với các ông Giám Tiền, Hương Lộc đem quân theo Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng) đánh giặc Ân (1440 – 1100 TCN). Khi thắng trận về triều, được vua ban thưởng, nhưng Chính Tín không nhận, đi ngao du sơn thủy, đến Liễu Kinh thấy phong cảnh đẹp lập am ở ẩn, sau hóa ở đó. Như vậy cùng một ông thành hoàng thì một người là dương thần với tuổi đời trên 700 tuổi, còn một vị âm thần có tuổi đời 3.200 tuổi

       Hay một di tích cấp quốc gia nữa là miếu Nhân Giả thờ thần Bảo An đại vương và Cương Nghị đại vương, theo thần tích của thôn thì hai vị thần này họ Lý thời nhà Lý (2 vị dương thần). Cũng hai vị thần này thì thần tích ở làng Hà Phương (Thắng Thủy), An Ninh (Vĩnh An)… ở huyện Vĩnh Bảo, chúng tôi được Trung tâm Bảo tồn các di tích cố đô Huế cung cấp về thần tích của vị thành hoàng thứ nhất như sau: Nam Hải đại vương, họ Hùng, húy là An. Vua nước Thục không có con trai, chỉ sinh được một người con gái. Nghe tiếng Hùng An là người hiền tài bèn gả con gái và nhường ngôi cho Hùng An. (Hùng An lên ngôi) hiệu là An Dương vương. Mười năm sau, nghe tin Hùng Duệ vương tuổi cao không có con trai kế vị. An Dương vương bèn đem quân sang đánh. Hùng Duệ vương phải nhường ngôi cho An Dương Vương. Vương lấy đức giáo hóa dân chúng, được tiếng khen là bậc vua hiền. Sau đó giặc Man sang đánh, Vương nhiều lần xuất binh nhưng không thắng được. Một hôm, Vương chiêm bao thấy Lạc Long Quân sai hai tướng Cương Nghị và Bảo An đi đánh giặc. Khi tỉnh dậy Vương truyền hỏi, mới biết đó là thần hiệu của hai vị thần ở trang Hà Hương. Vương bèn dẫn quân đến, lập đàn làm lễ khấn cáo rồi cất quân đi đại chiến với quân Man. Giặc Man thua to phải bỏ chạy. Vương bèn cho các bậc phụ lão trang Hà Hương tu sửa đền thờ hai vị thần. Về sau, Triệu Vũ Vương [tức Triệu Đà] sang đánh, An Dương Vương thua chạy về trang Hà Hương, đóng quân ở ngoài cổng trang, gọi bảo dân trang rằng: “Nếu muôn một có xảy ra việc gì, hãy dựng cung lộ thiên để thờ ta”. Nói xong Vương chạy ra cửa biển gieo mình xuống nước. Dân trang theo lời dặn lập đền thờ phụng, rất linh thiêng hiển ứng. Năm Tự Đức thứ 10 (1857), triều đình sắc phong thần hiệu là Nam Hải tôn thần. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh dư địa chí - tỉnh Hải Dương [Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin... biên tập], 2003, tr.128). Tức hai vị thần này là âm thần thời Hùng Vương thứ 18, như vậy hai vị thần lệch nhau khoảng 1.400 tuổi.   Và còn khá nhiều trường hợp như vậy ở nhiều nơi khác nữa???

      Câu trả lời đúng hay sai giành cho các nhà nghiên cứu và độc giả?

                                                                    NGỌC TÔ