/Cỏn con một sợi lông mày. Mà đem cọt trái đất này vào anh/ Thơ Trần Mạnh Hảo

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

THÁP CỔ ĐỒ SƠN ĐƯỢC DỰNG TỪ THỜI NÀO?

Mảnh đất Đồ Sơn ngày nay, vào thời phong kiến nhà Nguyễn gồm có 3 làng là Đồ Sơn, Ngọc Tuyền và Đồ Hải...

THÁP CỔ ĐỒ SƠN ĐƯỢC DỰNG TỪ THỜI NÀO?

.

      Mảnh đất Đồ Sơn ngày nay, vào thời phong kiến nhà Nguyễn gồm có 3 làng là Đồ Sơn, Ngọc Tuyền và Đồ Hải thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương. Còn từ trước năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì huyện Nghi Dương thuộc phủ Kinh Môn, tỉnh rồi trấn Hải Dương. Và vào năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông, thì phần đất An Lão cổ tách làm hai huyện, phần trên vẫn lấy tên An Lão, còn phần dưới phía giáp biển lấy tên là Nghi Dương.

      Tất cả phần đồi núi của huyện An Lão cổ (trước năm 1469) gồm 8 núi của huyện An Lão và quận Kiến An ngày nay (Voi, Tiên Hội, Phướn, Yên Ngựa, Đào Lĩnh, Đấu, Dương, Vọ) và 2 núi của huyện Kiến Thụy (Đối, Trà Phương) cùng 10 núi của quận Đồ Sơn đều có liên quan mật thiết với nhau. Phần lớn núi ở khu vực này là núi đất, không cao lắm và diện tích không lớn.

       Từ thời đầu thời Công nguyên trở về trước, thì toàn bộ khu vực các quận huyện An Lão, Kiến Thụy, Kiến An, Dương Kinh, Đồ Sơn vẫn còn là biển cả và hầu hết 20 núi trên là núi đất, nên được gọi là đồ sơn (). Ở đây, từ đồ () nghĩa là bùn đất, còn sơn () nghĩa là núi, nên ta hiểu nôm na là núi đất, chính vì vậy cái tên Đồ Sơn có thể đã có từ thời trước Công nguyên.

      Theo thời gian, biển dần lùi xa bởi các trầm tích phù sa từ miền ngược đổ về và các núi ở phía Tây Bắc phần đất liền huyện An Lão cổ với các tên gọi khác nhau, còn 10 núi cuối cùng trong số 20 núi kia được mang tên là Đồ Sơn.

      Tất cả phần núi đất (đồ sơn) này có từ rất xa xưa, phần đồng bằng phía Tây Bắc huyện An Lão cổ được hình thành từ thời sau Công nguyên. Còn phần đồng bằng giáp biển mới được hình thành vài trăm năm nay, thậm chí có địa phương mới được hình thành từ nửa cuối thế kỷ XX như mấy xã triền hữu (phải) sông Lạch Tray ven đường 14. Riêng phần đồng bằng của tổng Đồ Sơn được hình thành vào khoảng từ thời Lê trung hưng trở lại đây. Thời trước ngư dân Đồ Sơn muốn từ núi nọ sang núi kia phải dùng bè mảng hay thuyền, mủng mới sang nhau được.

      Trong tay tôi có tấm bản đồ hành chính trước thời Đồng Khánh (1886) của huyện Nghi Dương, tỉnh Hải Dương, thì tại huyện này có một số núi nằm ở phía Đông với tên Hán Việt là Đồ Sơn. Trang 143 sách “Đồng Khánh địa dư chí” ghi: “Núi Đồ, tức Đồ Sơn, dãy núi này 3 mặt giáp biển, một mặt giáp sông, gồm 9 núi, núi cao nhất là núi Mẹ (Mẫu Sơn). Các núi khác là núi Tháp (Tháp Sơn), núi Bông (Bông Sơn), núi Ngang (Hoành Sơn), núi Khỉ (Dĩ Sơn hay Khỉ Sơn), núi Lỗi (Lỗi Sơn), núi Mộc (Mộc Sơn), núi Dậu (Dậu Sơn), núi Hương (Hương Sơn). Các  núi này liền kề này trông giống như 9 con rồng, nên dãy núi này còn có tên khác nữa là Cửu Long. Và có thêm núi thứ 10 đột khởi lên riêng biệt, gọi là núi Độc (Độc Sơn), ngạn ngữ địa phương có câu:

Tám con theo Mẹ dòng dòng

Một con ngoảnh lại ra lòng bất nhân”.

      Còn danh thắng đã được xếp hạng thời phong kiến ở huyện Nghi Dương là tháp cổ Đồ Sơn, tức tháp Tường Long, được coi là cổ tích danh thắng bậc nhất xứ An Bang xưa. Từ “tháp” ở đây ta có thể hiểu là “mộ” của vị đại đức tu hành ở chùa nào đó, nên có chùa chỉ có một tháp, nhưng một số chùa có nhiều tháp là vậy.

       Trang 224 sách “Đồng Khánh địa dư chí” bản gốc chữ Hán ghi:

      Nguyên bản chữ Hán (Vũ Hoàng):

       名勝
       塗山故塔
       山臨大海蜿蜒如長龍吸水, 登臨可供玩賞,陳朝有鞏塔于山上(嘉隆年築塔取石 )

      Phiên âm Hán Việt (Vũ Hoàng):
       Danh thắng:
       Đồ Sơn cố tháp
       Sơn lâm đại hải, uyển diên như trường long hấp thủy, đăng lâm khả cộng ngoạn thưởng, Trần triều hữu trúc tháp vu sơn thượng, (Gia Long niên hủy tháp thủ thạch).

       Dịch nghĩa (Vũ Hoàng):

      Tháp cổ Đồ Sơn.

      Dãy núi trông xuống biển cả, ngoằn nghoèo như con rồng dài hút nước. Nếu trèo lên núi xem phong cảnh thì thấy thật đẹp mắt. Đời Trần dựng tháp trên núi ấy. Vào thời Gia Long (1802 – 1819) tháp bị phá để lấy đá.

      Sau sách này được dịch ra quốc ngữ rồi in thành sách và trang 143 “Đồng Khánh địa dư chí”phần danh thắng ghi: “Tháp cổ Đồ Sơn, núi trông xuống biển ngoằn nghoèo như con rồng dài hút nước. Trèo trên núi mà trông thấy phong cảnh thật đẹp mắt. Đời Trần dựng tháp trên núi ấy. Khoảng niên hiệu Gia Long (1802 – 1819), tháp bị phá để lấy đá”. Không hiểu vì sao mà tại phần chú thích ở cuối trang này lại ghi: “Tháp cổ Đồ Sơn, tức tháp Tường Long, dựng năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057) đời Lý Thánh Tông, cao hơn 100 thước ta…”.

       Thật đáng tiếc, tác giả đã ghi nhầm có chủ ý như vậy, lại còn ghi tháp cao hơn 100 thước ta, ngang với chiều cao của tháp mới xây, nhưng phần nội dung sách đều thể hiện là tháp cổ Đồ Sơn được xây dựng vào thời nhà Trần (1225 – 1400). Còn thần tích tháp cổ Đồ Sơn (Tường Long) ngày nay ghi là được xây dựng vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057) đời vua Lý Thánh Tông, thì cần phải có minh chứng như bia đá cổ hay cổ vật, vật liệu xây dựng tháp này...

       Dẫu tháp Tường Long được xây dựng vào thời Hậu Lý (1010 – 1225) hay thời Trần (1225 – 1400), thì địa danh nơi đây cũng là một danh thắng nổi tiếng từ xa xưa. Và mấy vần lục bát được ra đời:

Tháp Tường(1) dựng thuở nhà Trần

Mấy nhà viết sách ghi nhầm Thánh Tông(2)

Ai đem ngòi bút bẻ cong

Để dao rạch nát cõi lòng nhân gian.

__________

(1): Tháp cổ Đồ Sơn, nay là tháp Tường Long.

(2): Lý Thánh Tông (1023 – 1072)

NGỌC TÔ