/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TIN TỨC

SÁU TIẾN SỸ NHO HỌC HỌ TÔ VIỆT NAM

Chúng tôi mới tìm được 6 tiến sỹ Nho học họ Tô Việt Nam

SÁU TIẾN SỸ NHO HỌC TÔ TỘC VIỆT NAM

 

1-    Tô Hiến Thành  蘇憲誠 (1102 – 1179), người trang Phú Lộc, hương Ô Diên, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Tây, nay là cụm 3, thôn Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Theo sách “Từ Liêm huyện đăng khoa chí” do Cử nhân Bùi Xuân Nghi biên tập thời Tự Đức thì Tô Hiến Thành từng đỗ khoa thi Minh kinh bác học (Tiến sỹ) khoa Mậu Ngọ (1138) đời vua Lý Thần Tông. Thông tin này cũng được dẫn trong các tài liệu “Bản phủ tiền triều chư danh khoa bi” và bia Văn chỉ huyện Từ Liêm dựng năm Tự Đức thứ 25 (1872).

      Làm quan tới chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (Tể tướng) và được phong tước Trung tiết vương, mặc dù ông không phải là hoàng thất nhà Lý. Ông là người đề xuất và xin bãi bỏ khoa thi Minh kinh bác học, thay bằng khoa thi văn hóa để tìm người hiền tài, mãi đến đầu thời nhà Trần mới được thực hiện.

2-    Tô Kim Bảng 蘇金榜 (? - ?) người xã Tá Lan, tổng Thủy Đường, huyện Thủy Đường, nay là thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508) đời Lê Uy Mục. Làm quan đến chức Hàn lâm viện hiệu thảo.

3-    Tô Trí Cốc 蘇智穀 (1548 - ?) người xã Trâm Khê, huyện Tiên Minh (nay là thôn Trâm Khê, xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng). Năm 41 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Bính Tuất, niên hiệu Đoạn Thái 1 (1586) đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan đến chức Giám sát ngự sử.

4-    Tô Thế Huy 蘇世輝 (1666 - ?) người xã Bằng Đắng, huyện Bạch Hạc (nay là thôn Phong Doanh, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc). Năm 32 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa 18 (1697) đời Lê Hy Tông. Được cử đi sứ sang nhà Thanh. Làm quan đến chức Tả thị lang, tước Cảo Quận công. Ông vốn giỏi về chiêm tinh, khi vào điện Kinh diên thường giảng sách cho vua. Bị triều thần biếm chức. Sau khi mất được truy tặng Công bộ Thượng thư.

       Cuối đời, ông về trí sỹ tại quê và tiếp tục công việc tàng thư mà ông có dịp lưu trữ từ khi làm quan ở bộ Lễ. Ông xây ở sau vườn nhà một ngôi nhà gỗ ba gian lợp ngói, gọi là vân đài để chứa sách. Trong số đó, hầu hết là cất giữ thần phả của các làng xã ở miền đồng bằng và Trung du Bắc bộ. Ông mất ngày 24 tháng 04 (chưa rõ năm).

       Thơ văn của ông còn lại có bài ký Phụng tự La công sinh từ bi ký (bia sinh từ hệ La ở xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang). Một bài tựa viết cho sách Quần hiền phú tập vào năm Bảo Thái 10 (1728). Bài trướng mừng Tiến sỹ Nguyễn Bá Lân thi đỗ có tiêu đề Cổ Đô thượng thư quan đăng Tiến sỹ hạ tập, chép trong sách Bách Liêu thi văn tập.

5-    Tô Trân 蘇珍 (1791 - ?) người xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên. Sinh năm tân Hợi, cử nhân khoa Ất Dậu (1825). Năm 36 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng 7 (1826). Năm 1860 về trí sỹ.

      Sau khi đỗ, được bổ chức Hàn lâm Biên tu, thăng bổ Tuần phủ Định Tường (1833). Do vụ Lê Văn Khôi làm phản, ông bị cách chức, rồi được khởi phục chức Án sát sứ Thái Nguyên (1841), thăng Thái bộc tự khanh (1842) sung Toản tu Sử quán. Đầu đời Tự Đức được thăng Tả tham chi bộ Lễ, sung Kinh diên giảng quan. Năm 70 tuổi xin về hưu, ít lâu sau mất tại quê nhà.

          Tô Trân có tiếng là thanh liêm, nghiêm cẩn. Khi đến lỵ sở trấn Thái Nguyên, lại thuộc có kẻ tham nhũng, bất chính. Ông mới đến đã nghe nhiều dư luận không hay, nên khi kẻ ấy xin vào yết kiến, ông không cho vào, kẻ ấy phải thác bệnh đi trốn. Trong thời gian ở Thái Nguyên, ông biết xứ này văn học kém phát triển, nên thường tụ tập các học trò bình giảng thơ văn để khích lệ sỹ tử.

       Tác phẩm: Minh mệnh chính yếu (biên tập); Sáng tác thơ văn có Nam hành tập và Bắc hành tập.

        Lúc thành Định Tường (các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Đồng Tháp ngày nay) bị vây hãm, Tô Trân làm một bài thơ rồi lẩn đi. Bài thơ đó như sau:

Phiên âm Hán-Việt:

Dục bãi bất năng chử vũ dương,

Phân điền, phân thổ, bất phân vương.

Gia ưng hữu thất hà tu thỉ.

Lễ bất cầu phong chỉ dụng dương.

Đạt đắc chúng nhân suy hạnh xuất

Thao tồn nhất thủ tự vô đương.

Ngư du thảo hạ hòa biên ổn.

Ngọc chẩn di xa tụy nhất đường.

Bản dịch:

Muốn thôi, cánh liệng, chẳng cho thôi,

Xẻ đất, quyền vương chẳng xe đôi.

Không lợn, đã nhà nề nếp sẵn,

Có dê chưa hậu, lễ nghi rồi.

Nhiều người khen đạt mình may thoát,

Còn một tay thao việc khó trôi!

Cá tựa lúa êm bơi dưới cỏ,

Xe về nhà ngọc họp đầy vơi.

       Bài thơ luật Đường bằng chữ Hán trên, theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì "ngoài ý từ biệt tỉnh Định Tường về quê nghỉ, tác giả đã có tài xuất sắc là dùng tám câu thơ, mỗi câu tả tự dạng một chữ, có trật tự rõ ràng, thành tám chữ "Thư lý Định Tường Tuần phủ Tô Trân" (nghĩa là tạm quyền chức Tuần phủ tỉnh Định Tường Tô Trân). Mỗi câu về cách tả tự dạng chiết tự của mỗi từ đề trình bày rõ ý nghĩa cả câu. Đây là một bài thơ vừa có nghệ thuật hội họa, vừa có giá trị nghệ thuật thơ”.

6-    Tô Huân 蘇熏 (1826 - 1896) người xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên). Cháu Tô Hiền. Sinh năm Bính Tuất, cử nhân khoa Nhâm Tý (1852).

          Năm 43 tuổi đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức 21 (1868). Phó quản đạo Hà Tĩnh. Vì quân Pháp chiếm thành, ông bị cách chức. Sau được phục chức Đốc học Hải Dương.

Ngọc Tô sưu tầm