/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Tin Quốc tế

Người đàn ông đến từ thế giới chết

Nhưng trên bức tường vĩnh cửu của thời gian, thì đâu là tôi và đâu là cái bóng của tôi?

Người đàn ông đến từ thế giới chết

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 
 

Với tài trợ của Bộ Ngoại giao Mỹ và sáng kiến của Trung tâm William Joiner, năm 2003, bốn nhà văn của bốn nước khác nhau đã gặp nhau ở Mỹ và hành trình qua nhiều bang của đất nước này. Trước khi dời Việt Nam chừng một tháng, chị Rose Foley, người trực tiếp theo dõi chương trình này của Trung tâm William Joiner, có email cho bốn chúng tôi và đề nghị hãy làm quen với nhau qua email trước khi đến Mỹ. Nhưng cuối cùng thì chẳng ai viết cho ai cả. Vì chẳng ai biết ai và phải bắt đầu câu chuyện như thế nào. Nhưng tôi nhiều lần đọc tên từng người và cố hình dung ra những người bạn sẽ đồng hành với tôi. Và sau nhiều lần hình dung, ba cái tên kia vẫn xa lạ với tôi. Tôi biết, tên tôi cũng quá xa lạ với họ.

Đầu tháng tư chúng tôi  gặp nhau ở Boston. Jeam Marie Kayishema người Ruwanda, kịch tác gia, 56 tuổi, da đen, giáo sư Đại học quốc gia Ruwanda, thông thạo tiếng Anh và Pháp. Christopher Agee, nhà thơ, 47 tuổi, người Bắc Ai-len, da trắng, giáo sư Đại học quốc gia Bắc Ai-len. Adisa Basic, nữ thi sỹ người Bosnia, 24 tuổi, da trắng, nói giỏi tiếng Anh và Đức, biên tập viên một tạp chí văn học ở Bosnia. Và tôi, Nguyễn Quang Thiều, Việt Nam, lúc đó 46 tuổi, da vàng, biên tập viên Tuần báo Văn nghệ, nói tiếng Anh trung bình. Ý đồ của người tổ chức là chọn bốn nhà văn từ bốn nước đã trải qua chiến tranh đến Mỹ để nói về con người và xứ sở của họ, nơi chiến tranh và cái chết đã từng đi qua

Chúng tôi nhanh chóng làm quen nhau và lên đường đi du ngoạn nước Mỹ. Trước đó, chúng tôi chưa ai đọc của ai cái gì. Jeam Marie đã viết và dựng bốn vở kịch nhưng chưa xuất bản thành sách. Christopher xuất bản ba tập thơ. Adisa xuất bản một tập thơ. Và tôi đã xuất bản 24 đầu sách (không kể một tiểu thuyết mang tên người khác vì lý do tế nhị không nói ra). Khi nghe tôi nói vậy, các nhà văn của ba nước kia kinh ngạc không hiểu tôi viết bằng cách nào. Tôi nói với họ rằng 24 cuốn sách trung bình không bằng một cuốn sách hay. Nhưng tôi đã sống chết với con đường tôi chọn. Có thể cuối đời, tôi mới hoàn toàn nhận ra tất cả những gì tôi viết chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Có thể lúc đó tôi sẽ đủ can đảm đốt đi mọi thứ mình viết.

Nhà viết kịch Jeam Marie Kayishema (ngồi giữa) tại đại học Massachusetts, Mỹ năm 2003. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (người đứng ngoài cùng)

Trong tuần đầu tiên ở Boston, Trung tâm William Joiner tổ chức chiếu phim của các nước có nhà văn tham dự chương trình này. Phim Việt Nam đã được chiếu trước đó vì nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn sang Mỹ theo một chương trình khác của William Joiner, đã chiếu Vua Bãi Rác chiêu đãi khán giả tại một phòng chiếu của Đại học Harvard. Khủng khiếp nhất là bộ phim 100 ngày của Ruwanda. Cả bộ phim nói về chế độ diệt chủng ở đất nước này. Nhiều lần tôi định đứng lên bỏ ra ngoài vì từ đầu đến cuối bộ phim là cảnh người Tutsi và người Hutu ở Ruwanda giết nhau như người ta giết gà ở chợ Việt Nam: Lạnh lùng và thản nhiên. Đập một người giãy đành đạch xong lại đập người khác. Có lẽ vì thế mà trong suốt chuyến đi, Jean Marie, một người đàn ông da đen, người mà tôi gọi là người đàn ông đến từ một “thế giới chết”, như một cái bóng của sự ám ảnh thi thoảng lại lướt qua tôi.

Jeam Marie sống lưu vong nhiều năm nay qua nhiều nước và cuối cùng ông đã trở về Tổ quốc ông. Vợ con ông hiện giờ ở Canada. Ông tình nguyện trở về xây dựng Tổ quốc mình. Có lẽ màu da vẫn có một sự cách biệt nào đó. Ông nói với tôi : Tôi vẫn là một người da đen và họ vẫn là những người da trắng.  Tôi không nhận thấy điều ấy. Có lẽ đó cũng là một trong nỗi ám ảnh của ông. Hai đêm đầu tiên ở Boston trong một ngôi nhà ông và các nhà văn khác thuê của một người Mỹ gốc Đức mới nhập cư chừng mươi năm nay. Ông bảo lạnh quá không ngủ được. “Tôi đến ngôi nhà này đầu tiên - Ông nói vẻ bất bình – Nhưng người ta xếp cho tôi ở trong một căn phòng không có giường. Tôi phải ngủ trên sàn với một tấm đệm mỏng. Tôi thuê nhà cơ mà”. Tôi thực sự thông cảm với ông vì tôi được ở trong một căn phòng đẹp và đầy đủ tiện nghi trong ngôi nhà của một thi sỹ Mỹ. Đến New York, đoàn chúng tôi có bốn người, ba nam một nữ nhưng chỉ đăng ký ba phòng. Vậy là có hai người phải ở chung nhau. Người ta xếp tôi và Jeam Marie ở cùng phòng: Một người da vàng và một người da đen. Christopher và Adisa mỗi người một phòng. Jeam Marie không hài lòng. Nhưng tôi lại thấy thích thú vì lần đầu tiên tôi sống chung với một người da đen châu Phi. Tôi thích được quan sát ông. Và đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ, Jeam Mrie ngồi trên giường lấy bơ xoa lên mặt và hai bàn tay.   Đấy là một trong những cách dưỡng da của người da đen. Bơ làm nước da đen của ông bóng lên như đồng đen vậy. Có một đêm tôi tỉnh giấc. Tôi thấy ông đang quì trên sàn nhà và đầu gục ở mép giường. Tôi sợ ông bị ốm. Ông bảo tôi đừng lo cho ông. Ông cảm thấy một nỗi ám ảnh và đe doạ nào đấy thi thoảng bao vây ông. Rồi ông nói về nỗi kinh hoàng của sự diệt chủng trên đất nước ông. Hơn một triệu người bị giết trong vòng 100 ngày. Dân tộc ông là một dân tộc ngèo đói và nhỏ bé và chỉ có tám triệu người. Ông nói bây giờ mọi chuyện đã lắng xuống. Nhưng ông sợ một lúc nào đó nó sẽ lại xảy ra như đã xảy ra. Tuy vậy nhưng ông vẫn quyết định xa vợ con trở về Tổ quốc. Ông tâm sự với tôi là ông muốn trở thành Bộ trưởng Bộ Văn hoá. Ông muốn xây dựng nền sân khấu hiện đại cho Ruwanda. Ông muốn lập Hội Nhà văn. Ông muốn tiếng nói của nghệ thuật chân chính bay lên trên bóng tối của sự man rợ và chết chóc trên Tổ quốc ông. Và lại có một đêm tôi bất chợt tỉnh giấc. Trong bóng tối mờ ảo của căn phòng. Tôi thấy một đôi mắt trắng nhìn về phía tôi. Tôi giật mình. Nhưng ngay sau đó tôi trấn tĩnh lại vì nhận ra đó là đôi mắt của người đàn ông da đen khó ngủ. Tôi đọc được nhiều điều trong đôi mắt đó. Đêm đêm, trước khi lên giường, ông thường đi đi lại lại im lặng trong căn phòng. Có lẽ ông là người da đen nên nhiều lúc tôi không biết con người đang đi đi lại lại kia là ông hay cái bóng của ông in trên tường.

Khác với ông, Adisa là một cô gái trẻ sống sót qua cuộc chiến tranh ở Bosnia. Những ký ức về chiến tranh và chết chóc có quá ít trong lòng chị. Cái chị cần nhất là nhiều người biết đến thơ chị. Chị đã in tập thơ đầu tay và được một giải thưởng văn học Bosnia. Mỗi khi đọc thơ, chị ăn mặc rất đẹp. Chị kẻ mí mắt và đánh son môi. Chị tươi cười thật rực rỡ trước độc giả. Chị đọc những bài thơ ngắn đầy thông minh cùng với những câu nói hài hước làm bạn đọc Mỹ thi thoảng lại cười ồ lên. Chị mang con mắt của một thế hệ khác. Đời sống trong thơ chị thật đơn giản và luôn luôn rạo rực niềm vui. Chị giống một cô bé chạy trốn những bi kịch trong ngôi nhà của mình để tìm đến một góc vườn yên tĩnh. Trong ngôi nhà ấy, chị không phải nhìn thấy nước mắt của người mẹ và cái dây thòng lọng của sự tuyệt vọng của người cha. Nhưng rồi một ngày nào đó khi chị hiểu được đời sống này thì cái dây thòng lọng mà trước kia chị không nhìn thấy đêm đêm sẽ buông xuống lơ lửng trên đầu giường của chị. Còn những vở kịch của Jeam Marie là những cơn ác mộng. Jeam Marie càng ám ảnh bóng tối quá khứ bao nhiêu thì Adisa càng tránh chạm vào nó bấy nhiêu. Jeam Marie không thể nào rời bỏ được quá khứ. Jeam Marie không có con đường tắt nào đến ban mai. Ông phải đi qua bóng tối. Ông không thể nào tách rời được lịch sử đẫm máu của dân tộc ông. Ông có thể bình an sống ở Canada như bao người lưu vong khác với vợ con, với những đêm tuyết bay, với những thảo nguyên bất tận, với những cái cây lộng lẫy trong mùa hạ, với những đầm nước rực rỡ trong ban mai. Nhưng ông đã chọn con đường trở về Tổ quốc ông, nơi bóng tối của man rợ, của cái chết có thể ập đến bất kỳ lúc nào. Ông đã không chạy trốn lịch sử, không chạy trốn Tổ quốc ông. Ông có thể gục ngã đầm đìa máu trong bóng tối. Nhưng chính lúc ấy. Bài ca của sự sống mới vang lên kỳ vĩ nhất. Bởi ông mang theo trong máu thịt mình nỗi đau buồn và giấc mơ đầy ánh sáng về Tổ quốc mình.  

Sau hơn một tháng lang thang trên nước Mỹ, Adisa, nữ thi sỹ trẻ ấy tưởng không bao giờ biết buồn lại muốn trở về nhà. Chị bảo chị nhớ mẹ. Chị muốn bay về một hai tuần rồi trở lại Mỹ. Chị bảo tôi là người sướng nhất đoàn vì sách tôi đã được in ở Mỹ, vì đi đâu tôi cũng gặp những người bạn cũ, vì ở đâu cũng có quán ăn Việt Nam. Ở New York, Christopher đề nghị đến ăn tại quán ăn Việt Nam có tên là Mekong. Christopher biết đường xá nước Mỹ quá rành rọt. Đến New York, Washington, anh đều biết chỗ nào có quán ăn ngon, chỗ nào là quán càphê nổi tiếng. Anh sinh ra và lớn lên tại Mỹ, tốt nghiệp Đại học Harvard rồi chuyển sang sinhh sống ở Bắc Ai-len. Và bây giờ, anh lại đang tìm cách để hiểu nước Mỹ. Tôi thấy anh hình như bắt đầu mới biết nước Mỹ. Phải chăng  anh đã từng mang quốc tịch Mỹ mà bây giờ tôi thấy anh rụt rè hơn chúng tôi trước người Mỹ. Tối hôm đó, tôi đã trả tiền bữa ăn ở nhà hàng Mekong với giá 80 USD. Họ ngạc nhiên lắm. Tôi nói tôi mời họ vì lần đầu tiên họ đến quán ăn Việt Nam. Phong tục của người Việt Nam là thích mời khách ăn cơm.

Hơn ba tuần chu du qua nhiều bang, chúng tôi sống trong không khí thật thân ái, thật thánh thiện. Có lẽ bởi chúng tôi chỉ gặp các trí thức, các nhà thơ và sinh viên. Cứ vài ngày, chúng tôi lại có một cuộc đọc thơ. Mọi người đến những phòng đọc đẹp đẽ, ấm cúng và ngôn ngữ thi ca đã bay lên. Hầu hết các buổi đọc, tôi đều đọc tiếng Việt và một nhà thơ Mỹ giúp tôi đọc bản tiếng Anh. Gần như tất cả người nghe trong những buổi đọc thơ ấy chưa bao giờ nghe một nhà thơ Việt Nam đọc thơ bằng tiếng Việt. Thơ của tôi là thơ không vần. Nhưng tôi vẫn có thể nói rằng nó đã quyến rũ nhiều người nghe bởi sự lãng mạn và nhạc tính của ngôn ngữ chúng ta.  Và tôi có thể tự hào rằng: Tôi đã mang đến cho bạn đọc Mỹ một phần nhỏ cái đẹp của ngôn ngữ Việt trong giọng đọc của mình. Mỗi khi cất giọng đọc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, tôi thấy không phải đang đứng trên nước Mỹ mà đang đứng trên miền châu thổ rộng lớn của xứ sở chúng ta. Và tôi đã kể cho họ nghe dù một điều nhỏ bé về những gì mà những người dân bình dị trên xứ sở chúng ta đã gánh chịu, đã vượt qua, đã khổ đau và mơ ước.   

 Đêm nay tôi muốn viết những dòng này. Bởi đêm nay, trong căn phòng của tôi lúc hai giờ sáng, tôi chợt thấy cái bóng của người đàn ông da đen lướt qua và đôi mắt trắng của ông nhìn về phía tôi. Cho đến lúc này, tôi không còn phân biệt được đâu là người bạn da đen của tôi và đâu là cái bóng của ông. Và tôi lại nhớ đến bộ phim về một lịch sử đẫm máu và điên rồ của dân tộc ông. Tôi thấy không chỉ một cái bóng mà hàng triệu, hàng triệu cái bóng thẫm đen in trên bức tường máu của lịch sử nhân loại. Đêm nay, tôi thấy cái bóng của tôi in trên bức tường trong căn phòng. Tôi biết đâu là tôi và đâu là cái bóng của tôi. Nhưng trên bức tường vĩnh cửu của thời gian, thì đâu là tôi và đâu là cái bóng của tôi?

(Nguồn: Báo Văn nghệ số 1+2/2015)