/Lẽ đời thấu hết nông sâu. Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy./ Thơ Võ Văn Trực

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Bình văn

BỨC TRANH TÌNH VỀ BIỂN ĐẢO

Tôi đã tiếp xúc với nhiều nhà thơ, đọc nhiều tác phẩm thơ, song có lẽ ít thi nhân nào ở miền duyên hải bắc bộ vượt qua Hồ Anh Tuấn

BỨC TRANH TÌNH VỀ BIỂN ĐẢO

 

MẢNH TRĂNG BỜ CÁT

                                                                            

Chẳng hẹn đâu mà trăng đã lên

E lệ giấu nửa mảnh vàng sau núi

Biển hồi hộp nhịp triều lên bối rối

Ngực sóng vừa chạm tới ngực em

 

Bao vui buồn thư­ờng nhật bỗng quên

Trăng với n­ước mê hồn hai đứa

Đêm dân dã thuở hồng hoang mở cửa

Nụ hôn làm chết lặng trái tim

 

Anh và em gối bờ cát dịu êm

Sau vũ khúc với thiên nhiên cuồng nhiệt

Sóng vô ý kéo chiếc khăn xanh biếc

Em m­ượt mà hiện một mảnh trăng rơi

 

Ngỡ lạc vào cổ tích xa xôi

Trăng tình tứ lẫn vào mây huyền ảo

Biển chợt lặng trái tim thì dông bão

Đêm dịu dàng thành ký ức trăm năm.

                                  Hồ Anh Tuấn.

 

LỜI BÌNH CỦA TÔ NGỌC THẠCH

 

    Tôi đã tiếp xúc với khá nhiều nhà thơ, đọc nhiều thi phẩm, song có lẽ ít thi nhân nào ở miền Duyên hải Bắc bộ vượt qua Hồ Anh Tuấn làm thơ về biển đảo. Chính vì vậy tôi đặt tên cho anh là nhà thơ của biển đảo. Sinh ra tại Nghệ An, học khoa văn Đại học S­ư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, Hồ Anh Tuấn được điều về “Đảo Cát” công tác từ những năm đầu của cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền bắc. Và, từ ấy cuộc đời anh gắn liền với sự thăng trầm của Cát Hải, Cát Bà... Khi cầm trên tay tập thơ thứ 5 “Biển và em” của anh do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2003, tôi lấy làm ngạc nhiên khi phần lớn những bài thơ lại có nội dung về biển đảo.

    Đọc hết tập thơ, thấy nổi trội hơn là bài “Mảnh trăng bờ cát”, đã gợi cho tôi một cảm xúc lạ thường. Đây là một bài thơ tình có chiều sâu, mạch thơ phát triển khá tự nhiên, khổ thơ nào cũng gây được ấn tượng cho ng­ười đọc. Tài hoa của tác giả trong thi phẩm này là làm cho độc giả lĩnh hội lượng thông tin ngữ nghĩa với những hình ảnh ấn tượng. Từ thiên nhiên (Trăng, biển, sóng, cát, nước, thuỷ triều...) đến con ng­ười đ­ược mô phỏng trong diễn biến bất ngờ vào thời điểm trăng “Dậy thì”. Phải chăng, hiếm có nơi nào tại nước ta lại có đêm trăng đẹp nh­ư ở Cát Bà. Từ cổ xưa, cứ vào tối 16 âm lịch, dân đảo có tục lệ đón trăng ở chân sóng. Ngày nay tuy tục lệ ấy không đ­ược tổ chức thành lễ hội, nhưng người dân vẫn thường rủ nhau đi thư­ởng thức trăng tại các bãi tắm, bến cảng. Mặc dù Hồ Anh Tuấn không nêu thời gian, địa điểm cụ thể, nh­ưng tôi quả quyết rằng: Bài thơ này anh viết vào đêm trăng tròn và trên bãi tắm Cát Tiên hoặc Bến Bèo của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà.

    Bài thơ “Mảnh trăng bờ cát” với bốn khổ thơ như bức tranh bốn mùa (Xuân, hạ, thu, đông), tạo ra một chu trình thời gian một năm tròn khép kín. Bốn mùa ấy, không thể bỏ đi bất kỳ mùa nào, mà nó còn bổ sung và tăng độ tương phản cho nhau trong từng gam màu. Khổ thơ mở đầu được coi như mảng tranh khai bút về mùa đông xao xuyến ở miền nhiệt đới gió mùa: “Chẳng hẹn đâu mà trăng đã lên. E lệ giấu nửa mảnh vàng sau núi. Biển hồi hộp nhịp triều lên bối rối. Ngực sóng vừa chạm tới ngực em”. Tác giả đã dùng phương pháp ẩn dụ về ngôn ngữ, cách nhìn tinh tế và cách tổ chức từ ngữ khá chặt chẽ. Cuộc gặp tình cờ, để trăng phải “E lệ”. Hình ảnh trăng ở đây “Đương độ xuân thì” làm cho biển cũng hồi hộp, phập phồng“Bối rối”. Còn thiên nhiên xung quanh như: Ánh sáng, cát, thủy triều... bị bỏ bùa mê thuốc lú, quên hết sự đời khi tấm thân ngọc ngà ng­ười thiếu nữ thả mình xuống bãi tắm “Ngực sóng vừa chạm tới ngực em”. Tác giả đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động và không dùng từ tay sóng hay cánh sóng... mà dùng “Ngực sóng”, đó mới là sự sáng tạo ngôn ngữ trong thơ. 

   Sang khổ thơ thứ hai được ví như một mảng tranh về mùa xuân hiền dịu, ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc: “Bao vui buồn th­ường nhật bỗng quên. Trăng với n­ước mê hồn hai đứa. Đêm dân dã thuở hồng hoang mở cửa. Nụ hôn làm chết lặng trái tim”. Hồ Anh Tuấn đã chọn lọc hình ảnh, bằng biện pháp nhân cách hoá, được diễn tả đôi uyên ương một cách sinh động. Lối so sánh trực tiếp làn nước biển như một chiếc khăn voan mỏng phủ lên thân thể nõn nà của người thiếu nữ, vẽ lên một bức tranh hoàn chỉnh. Rồi sóng vô ý kéo chiếc khăn ấy để lồ lộ ra một “Mảnh trăng” ảo trên bãi tắm, còn phía trên “Mảnh trăng” thật đang treo lơ lửng trên sườn núi. Lăng kính thơ của Hồ Anh Tuấn thật lãng mạn khi liên tưởng tới cuộc tình đắm say “...Làm chết lặng trái tim”.

   Khổ thơ thứ ba là mảng tranh về mùa hè nóng bỏng và mạnh mẽ. Những xúc cảm ở đây tác giả đã biểu đạt sau một thời gian chờn vờn với sóng, thả hồn vào biển xanh, đắm đuối bên nhau. Những giây phút thẫn thờ nằm gối đầu lên cát để thưởng thức trăng. Thời gian thư­ giãn có một không hai này đã lôi kéo “Người xem” tới một thế giới khác. “Anh và em gối bờ cát dịu êm. Sau vũ khúc với thiên nhiên cuồng nhiệt. Sóng vô ý kéo chiếc khăn xanh biếc. Em m­ượt mà hiện một mảnh trăng rơi”. Bằng nét chấm phá, tác giả đã tô thêm những gam màu sặc sỡ, nóng hổi như “Vũ khúc với thiên nhiên...”. Và, có lẽ hình ảnh ấn tượng nhất là câu thơ lãng mạn nhất “Em mượt mà hiện một mảnh trăng rơi”. Ở đây vẻ đẹp của con người và vẻ đẹp thiên nhiên hòa quyện với nhau, tạo nên một sự thống nhất giữa các gam màu trong bức tranh toàn cảnh.

   Theo truyền thuyết: Từ xa xư­a phong cảnh Cát Bà đã đẹp đến mê hồn, các nàng tiên thường rủ nhau xuống đây tắm, ngắm trăng. Một hôm Ngọc Hoàng có việc cần triệu tập gấp các nàng tiên về trời, nàng út vô tình đánh rớt chiếc hài giống hình chiếc guốc và chiếc hài đó hóa thành ngọn núi. Đến nay ngọn núi này mang tên Hòn Guốc, còn bãi tắm mang tên Cát Tiên... Và, ng­ười con gái trong bức tranh kia quả thật đẹp mỹ miều đư­ợc mô tả qua ngòi bút của Hồ Anh Tuấn nh­ư một câu chuyện cổ tích: Để trăng tình tứ lẫn vào mây, biển im lìm, còn trái tim thì dông bão. Đêm trăng mịn màng, dịu êm nh­ưng đầy thơ mộng và nét đẹp văn hóa của Cát Bà mãi mãi tr­ường tồn.

    Khổ thơ kết thứ tư như mảng tranh về mùa thu, vừa dịu êm ngọt ngào vừa đậm đà sâu lắng. “Ngỡ lạc vào cổ tích xa xôi. Trăng tình tứ lẫn vào mây huyền ảo. Biển chợt lặng trái tim thì dông bão. Đêm dịu dàng thành ký ức trăm năm”. Mùa thu ở đây là mùa vàng thu hoạch với những cảm giác rạo rực, bâng khuâng. Bằng những ngôn từ thực, khổ thơ kết tác giả đã tạo ra những hình ảnh so sánh tinh tường với bên này là “Tình tứ” thì bên kia là “Huyền ảo”, còn một bên là “Chợt lặng” thì bên kia là “Dông bão” đã văng khổ thơ với một biên độ xa rộng hơn.

   Bức tranh bốn mùa của Hồ Anh Tuấn đ­ược thăng hoa bằng bốn khổ thơ tự do giàu chất trữ tình. Tác giả đã hoà mình vào nhân vật, chọn những gam màu phù hợp để làm lên một bức tranh riêng về thiên nhiên và con ng­ười “Đảo Cát”. Song ta có thể nhận thấy rằng, bức tranh chưa có những nét chấm phá thật rõ nét để không khỏi lẫn vào các bức họa ở các vùng miền biển đảo khác. Nhưng dẫu sao đây cũng là một bức tranh tiêu biểu về biển đảo, dành cho độc giả một bữa tiệc nghệ thuật thú vị.

TNT