/Bỗng hôm nay trước cửa bóng trăng quỳ. Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu/ Thơ Hàn Mặc Tử

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

HUYỆN LỴ VĨNH BẢO VÀ PHỐ ĐÔNG THÁI

Không biết thế nào, nhưng đoạn sông Kênh Giếc gần cầu Mục này từ khi tri phủ Hoàng Gia Mô bị xử tử tới nay thường xuyên có người đuối nước và cư dân địa phương nơi đây nói rằng bị oan hồn tri phủ bắt.

HUYỆN LỴ VĨNH BẢO VÀ PHỐ ĐÔNG THÁI

.

       Anh bạn tôi người thị trấn Vĩnh Bảo, xưa là làng Đông Tạ, có chức sắc ở trên trung ương hẳn hoi, lúc nào cũng tự hào mình là người quê Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt ở nhiều diễn đàn Đ đều cho mình là “Ta quê đất Trạng Trình mà”... Thấy hơi bị lố, tôi mới có lời nhỏ nhẹ:

-         Nói thật với bạn, xã (làng) Đông Tạ, tổng Đông Tạ hay nói rộng hơn là nửa huyện

Vĩnh Bảo không có dính níu gì đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đâu nhé.

-         Ông nói thật hay đùa đấy? Đ hỏi.

-         Thật một trăm phần trăm, vì bạn quê ở huyện Tứ Kỳ còn cụ Trạng quê ở huyện

Vĩnh Lại, chẳng khác nào bây giờ như huyện Vĩnh Bảo và huyện Tiên Lãng đó?

-         Thế mà tôi xem Từ điển Bách khoa Địa danh Hải Phòng ghi từ năm 1822 tổng

Đông Tạ thuộc huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng?

-         Cũng chết vì hai địa phương đều có chung từ Vĩnh, nên rất nhiều người viết sử

đều nhầm Vĩnh Bảo từ Vĩnh Lại mà ra.

-         Thôi, ông giải thích ngắn gọn cho tôi tý xem nào? Đ hỏi

   Nhâm nhi tách cà phê, tôi chậm rãi sơ lược lại quá trình thành lập huyện Vĩnh Bảo

và lịch sử ra đời của phố Đông Thái. Nhắc lại chuyện cũ, tôi hỏi Đ:

-         Ông ở bên Nga lâu, nên biết nước Nga có ba phần tư diện tích đất thuộc châu Á,

mà Nga là quốc gia thuộc châu Âu không?

-         Tôi chịu? Đ trả lời.

-         Vì theo quy định quốc tế, thủ phủ của quốc gia ở vị trí châu lục nào, thì quốc gia

đó thuộc châu lục ấy và ngôn ngữ của thủ phủ đó là ngôn ngữ của quốc gia đó. Như vậy Đông Tạ quê bạn là thủ phủ của huyện Vĩnh Bảo. Từ ngày khai sinh lập địa tới năm thành lập Vĩnh Bảo (1838) làng Đông Tạ đều thuộc huyện Tứ Kỳ, nên Vĩnh Bảo là từ huyện Tứ Kỳ mà ra, chứ không phải từ huyện Vĩnh Lại. Nên ông không phải là quê cụ Trạng nghe chưa, từ nay trở đi kheo khéo cái miệng mà chèo chống? Rồi chúng tôi cùng nhau hàn huyên:

          Vào đầu thời nhà Nguyễn diện tích và dân số các vùng đất ven biển Bắc Bộ tăng lên đáng kể, đặc biệt là mảnh đất có ba “Sông Luộc, sông Thái Bình chảy cùng sông Hóa bao bọc này lại có hai huyện quản lý là Tứ Kỳ và Vĩnh Lại. Mặt khác huyện Tứ Kỳ quá rộng gồm mười ba tổng với một trăm hai mươi tư làng xã được trải dọc với chiều dài bốn chục cây số. Trong số này có năm tổng nằm bên triền Hữu sông Luộc gồm Yên Bồ, Viên Lang, Đông Tạ, Bắc Tạ và Can Trì.

       Để tiện cho việc quản lý, Bố chánh Hải Dương Nguyễn Công Trứ xin ý kiến triều đình nhà Nguyễn và vua Nguyễn Thánh Tổ ra sắc lệnh cắt năm tổng bên bờ Hữu sông Luộc thuộc huyện Tứ Kỳ và ba tổng Thượng Am, Đông Am, Ngải Am thuộc huyện Vĩnh Lại để thành lập huyện mới mang tên Vĩnh Bảo vào năm Minh Mạng thứ Mười Chín (1838). Lúc này Tứ Kỳ còn tám tổng gồm: Mỹ Xá, Phan Xá, Ngọc Lâm, Mạc Xá, Toại Yên, Tất Lại, Yên Đường và Hà Lộ. Còn huyện Vĩnh Lại cũng còn tám tổng gồm: Ba tổng bên bờ Hữu sông Luộc là Hạ Am, An Lạc, Kê Sơn và xã Tranh Chử (thuộc tổng Bất Bế) cùng với năm tổng bên bờ Tả sông Luộc là Bất Bế, Bồ Dương, Đông Cao, Văn Hội và Xuyên Hử.

          Theo sử sách đã xuất bản của thành phố Hải Phòng cũng như Vĩnh Bảo thì huyện lỵ Vĩnh Bảo từ lúc đầu thuộc xã Đông Tạ, tổng Đông Tạ. Nếu tính từ xa xưa tới hết thế kỷ XIX, Vĩnh Bảo lúc này có mười hai tổng thì tổng Đông Tạ gồm sáu xã: Đông Tạ, Nam Tạ, Liễn Thâm, Cao Hải, Nội Đan và An Ngoại.

       Thời ấy xã Đông Tạ có ngũ giáp: Giáp Trung là khu vực từ đình Đông Tạ và Văn chỉ tới hết khu hành chính của huyện hiện nay, giáp Bắc có miếu Đông Tạ và chùa Đông Tạ (Ân), giáp Nam là khu vực thôn Điềm Niêm ngày nay, giáp Đoài (Tây) là từ đình Đông Tạ hắt về phía Tây và cuối cùng là giáp Đông, tức xóm trại Chiều ngày nay có chùa Bụt Mọc. Giáp này là mảnh đất hoang hóa do một số cư dân từ tứ giáp và nhiều nơi khác đến khai khẩn, nhưng do sự phát triển chậm, không đủ cơ số dân để thành lập xã (làng), nên vẫn giữ nguyên là trại Chiều mà thôi, cũng giống như trại Đòng thuộc xã Ngọc Đòng, tổng Can Trì (nay là xã Liên Am), hoặc trại Cung Chúc thuộc xã Cung Chúc, tổng Viên Lang (nay là xã Trung Lập). Còn xã Nam Tạ, tổng Đông Tạ có tứ giáp: Giáp Trung là thôn có đình Nam Tạ, giáp Nam là thôn Phúc Lâm, nơi có chùa Phúc Lâm, giáp Đông là thôn Gia Phong, còn giáp Bắc là thôn Kinh Trang. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, theo cách quản lý mới (xã cũ thành thôn) thì xã Đông Tạ và xã Nam Tạ gộp thành xã Tân Dân, sau này đổi thành xã Tân Hưng. Đến ngày 18 tháng 8 năm 1986 thì Đông Tạ thành thị trấn Vĩnh Bảo, là địa danh thứ Ba Mươi của huyện.

       Còn ở huyện lỵ Vĩnh Bảo có một phố chính chạy dọc từ Bắc xuống Nam thị trấn mang tên Đông Thái, mà nhiều người sinh ra và lớn lên tại con phố này cũng chưa biết xuất xứ của nó. Chuyện thì dài nhưng tôi có thể vắn tắt như sau: Khi Vĩnh Bảo được nâng cấp từ huyện lên phủ vào đầu thập niên hai mươi thế kỷ XX, triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm Hoàng Gia Mô là con trai quan Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, cháu nội viên quan Khâm sai Hoàng Cao Khải về làm tri phủ Vĩnh Bảo.

       Lúc về sinh sống tại đây, viên tri phủ này lấy tên làng Đông Thái quê mình đặt tên cho con phố trung tâm phủ lỵ này. Đông Thái là một làng khoa bảng rất nổi tiếng trong suốt thời kỳ phong kiến cũng như thời nay thuộc huyện La Sơn (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ) Hà Tĩnh, mà nay còn có tên khác nữa “Làng một ngàn tiến sỹ”.
(còn nữa)