/Bỗng hôm nay trước cửa bóng trăng quỳ. Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu/ Thơ Hàn Mặc Tử

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Văn xuôi

CÁC NHÀ KHOA BẢNG QUÊ VĨNH BẢO

Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn.

                                CÁC NHÀ KHOA BẢNG QUÊ VĨNH BẢO

.

       Có điều chắc chắn là hầu hết danh sách các nhà khoa bảng (1075 – 1919) quê huyện Vĩnh Bảo, cũng như toàn bộ thành phố Hải Phòng đều trích từ danh sách các nhà khoa bảng Hải Dương, vì vào cuối thế kỷ XIX, Hải Phòng được tách ra từ trấn Hải Dương, mà Vĩnh Bảo là huyện gia nhập vào ngôi nhà chung Hải Phòng muộn nhất (cuối 1962).

       Khi phát hiện ra sự nhầm lẫn một số Tiến sỹ Nho học của huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương sang huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng, trong tôi đã có linh tính là một số nhà khoa bảng của huyện Vĩnh Bảo sẽ bị nhầm sang huyện Tứ Kỳ cũng như một số huyện khác của tỉnh Hải Dương và ngược lại. Chúng tôi đành lần lượt xem lại kỹ gần ba ngàn các nhà khoa bảng ở nhiều tài liệu khác nhau của trung ương và Hải Dương để có thể tìm ra một số nhà khoa bảng cho mảnh đất “Bảo vệ vĩnh viễn”.

       Chính những nhà biên soạn sách của trung ương hay địa phương, đôi lúc còn nhầm lẫn danh sách các nhà khoa bảng của huyện này thì lại cho vào huyện khác, vì nhiều địa phương chưa biết cách đổi tên, hoặc trong quá trình thay đổi địa giới hành chính làng xã bị phân chia, tách ra... Vì vậy nhiều trường hợp có một Tiến sỹ Nho học mà cả hai xã của hai huyện khác nhau đều nhận. Hay có những làng xã, dòng tộc khi viết sử hay gia phả thường “thêm mắm thêm muối” vào, làm những người đi tìm phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới có được đáp số về các nhà khoa bảng và các chức danh được ghi. Vậy nên nhiều cuộc tranh luận nảy lửa xảy ra, nhưng dẫu sao ta vẫn phải dựa vào các chứng cứ khách quan, khoa học để giải thích đúng sai?

       Trong sách Trạng nguyên Tiến sỹ Hương cống Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin năm 2002 có ghi: Nguyễn Duy Tinh, người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh (cùng khoa thi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Làm quan tới chức Thừa Chính sứ.

       Hay Nguyễn Bá Tùng, người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng (cùng quê với Nguyễn Duy Tinh). Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông (cùng khoa thi với Trạng nguyên Lê Ích Mộc).

       Và, sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919” xuất bản năm 2006  ghi: Xã Tạ Xá xem chú thích Nguyễn Bá Tùng cùng xã với Nguyễn Duy Tinh. Chúng tôi lần theo dòng chú thích kia, theo Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục và Đăng khoa lục sưu giảng ghi tên xã Tạ Xá. Rồi trong Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục còn ghi thêm tên xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ. Thông qua một nhà sử học người Tứ Kỳ, chúng tôi đã biết được thôn Lạc Dục thuộc xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ gần thành phố Hải Dương ngày nay. Nhưng để xác minh được đây có phải là tên cổ xưa hay tên mới có thì là chuyện không hề đơn giản.

       Cách đây hai năm, vào một ngày hè nóng như thiêu như đốt, nhân có việc ở Báo Hải Dương, mấy anh em tôi làm chuyến chu du tới xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ. Lúc qua Trạm Y tế xã Hưng Đạo, tôi mới ghé qua hỏi một thày thuốc trẻ:

-        Làm ơn. Bác sỹ chỉ giúp đường tới thôn Lạc Dục?

-        Các chú hỏi có việc gì? Người thày thuốc trẻ hỏi.

-        À, chúng tôi là mấy anh em nhà văn muốn tìm hiểu về văn hóa làng quê và đang đi tìm quê gốc cho mấy nhà khoa bảng từ thế kỷ XVI.

-        Cháu cho các chú số máy của bác “Già làng” để các chú hỏi nhé.

       Qua số điện thoại mà người thày thuốc cho, chúng tôi đã tới được thôn Lạc Dục. Đây là một địa danh nằm sát ngay sông Thái Bình và có bề dày văn hóa. Rất may cho đoàn là cán bộ thôn rất nhiệt tình và sáu sắc phong của Lạc Dục vẫn còn được giữ nguyên vẹn. Chúng tôi cẩn thận nhìn từng sắc phong một, từ niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1886), Duy Tân 3 (1909) đến Khải Định 9 (1924) đều ghi: Sắc cho Hải Dương tỉnh, Tứ Kỳ huyện, Nghĩa Xá tổng, Lạc Dục xã. Trong đầu tôi đã có linh tính đây không phải là quê gốc của hai Tiến sỹ Nho học kia. Kết hợp với các yếu tố khác, bằng phương pháp loại trừ, chắc chắn nhà khoa bảng Nguyễn Duy Tinh và Nguyễn Bá Tùng là người quê gốc lục tổng khu trên của huyện Vĩnh Bảo.

          Theo một số tài liệu cổ ghi xã Tạ Xá trước đây thuộc tổng Bắc Tạ hay Đông Tạ. Trong tôi một kỷ niệm khó quên bật ra: Vào năm 2014 khi viết cuốn sách về nhà cách mạng Nguyễn Văn Ngọ, tôi đã tới xã Tạ Xá, tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh (nay là thôn Tè, xã Hợp Tiến, huyện Nam Sách, Hải Dương), một căn cứ cách mạng quan trọng của liên tỉnh B (Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hồng Quảng) và là nơi ra đời cơ sở Đảng đầu tiên của tỉnh Hải Dương. Từ manh nha này chúng tôi thấy chữ Tạ có nghĩa là cảm ơn, tên Nôm là Tè, còn chữ Xá theo nghĩa Hán là làng, nên Tạ Xá có nghĩa là làng Tạ và người dân địa phương gọi tắt là làng Tè.

          Sau mấy năm tìm hiểu bằng các tài liệu cổ và đi thực tế tất cả các vùng đất thuộc Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Bảo mang tên Tạ, đến nay mới có lời giải đáp và hai nhà khoa bảng Nguyễn Duy Tinh cùng Nguyễn Bá Tùng là người thuộc xã Tạ Xá châu Hạ Hồng, nay là thôn Tạ Ngoại và thôn Nội Tạ, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

       Hay một trường hợp khác về hai nhà khoa bảng Nguyễn Đình Tộ (1482 - ?) và Nguyễn Sư Khanh (1566 - ?) đều đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, hai ông cháu là người xã Đông Quất, tổng Can Trì, huyện Tứ Kỳ. Nhưng trong sách “Tiến sỹ Nho học Hải Dương” xuất bản năm 1999, lại ghi nay là thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương.

       Chúng tôi phải bới lục hết các tư liệu ở các cơ quan lưu trữ Nhà nước để tìm được ba tấm bản đồ huyện Tứ Kỳ, Ninh Giang và Vĩnh Bảo vào thời đầu nhà Nguyễn. Khi xem hết các xã tổng thì huyện Tứ Kỳ chỉ có một xã Đông Quất thuộc tổng Can Trì mà thôi. Để cho chắc chắn, chúng tôi lại tới thôn Phương Quất xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ nằm gần giáp với tỉnh lỵ Hải Dương, nhưng chuyến đi chưa thu được kết quả gì khả quan. Một tuần sau chúng tôi tiếp tục về thôn Tràng (thuộc Đông Quất), xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo thì biết Thiếu tướng Cảnh sát biển Nguyễn Văn Tương và bác sỹ Nguyễn Tài Tê là cháu đời thứ mười tám của nhà khoa bảng Nguyễn Đình Tộ và phần mộ của các cụ được quy tụ tại khu nghĩa trang của thôn. Khi chúng tôi ra đình Tràng (thờ Nguyễn Sư Khanh) vẫn còn đôi câu đối:

“Lưỡng quốc bá phương danh, Tiến sỹ xuất thân, Bắc triều phụng sứ; Thiên thu long tự điển, dực ngôn dựng tú, Đông nhạc chung linh”.

Tạm dịch nghĩa là:

“Hai nước nức tiếng thơm đỗ Tiến sỹ, đi sứ Trung Quốc, ngàn năm tên lưu trong sách, văn chương hàng cứng cỏi núi Đông hun đúc khí thiêng”.

Ở làng Đông Quất (nay là Tràng) còn lưu truyền bài ca có câu:

“Hiệu Hồng Ninh thứ hai năm ấy

Khoa Nhâm Thìn tiến sỹ rành rành

Văn nhân tài tử đua tranh

Thứ ba, ông Nguyễn Sư Khanh bảng đầu

       Đây cũng là những minh chứng để khảng định lại xã Đông Quất thuộc tổng Hu Trì, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng là quê gốc của nhà khoa bảng trên.

       Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện và tìm ra quê của nhà khoa bảng Nguyễn Minh Đạt (? - ?) là người xã Đông Quất, huyện Tứ Kỳ (trong các tư liệu cổ chỉ ghi huyện Tứ Kỳ). Nay là thôn Tràng, xã Tam Đa. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493) đời Lê Thánh Tông. Tên thần là Đại lý Tự khanh Quế Nham bá Nguyễn Tướng Công tôn thần. Làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình (Bộ trưởng Bộ Tư pháp), đi sứ nhà Minh, mất tại Trung Quốc. Trước năm 1938 có miếu thờ năm gian ở xứ Đồng Châu, xã Tam Đa ngày nay.

       Hay theo Từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng thì trường hợp ông Nguyễn Duy Minh (1462 - ?), người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang. Có tài liệu khác ghi Nguyễn Duy Minh, người xã Hà Trường, huyện Giáp Sơn. Nay là thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

       Khi xem qua hai cuốn sách khác của Trung ương và cuốn “Tiến sỹ Nho học Hải Dương” xuất bản năm 1999 đều ghi Nguyễn Duy Minh sinh năm 1468, người xã Hà Trường, huyện Giáp Sơn. Nay là thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương. Đỗ Đệ tam đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang.

       Chúng tôi lại kéo nhau về Hà Dương, Cộng Hiền, Vĩnh Bảo xem sao. Tại địa phương này vẫn còn nhiều nhánh của họ Nguyễn, nhưng chưa nhánh nào có minh chứng khoa học để khảng định Tiến sỹ Nho học Nguyễn Duy Minh là người làng này. Chúng tôi đành tiếp tục khởi hành đến thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn. Đây là một xã cách không xa đường 5, nằm dọc theo sông Kinh Môn. Vòng vèo một lúc vẫn chưa tìm được địa chỉ, tôi lại vào ngay Trạm y tế xã Thăng Long để hỏi đường.

-        Nhờ bác sỹ chỉ giùm đường tới thôn Hà Tràng?

-        Các chú về đó có việc gì quan trọng à? Cô bác sỹ trẻ hỏi.

-        Chúng tôi là mấy nhà văn đi tìm quê cho Tiến sỹ Nguyễn Duy Minh thời thế kỷ XV.

-        Tưởng các chú đi dạm ngõ cho con trai, chứ việc này cháu cho các chú số của lãnh đạo xã là người Hà Tràng nhé.

          Qua số điện thoại của vị lãnh đạo xã Thăng long chúng tôi đến được thôn Hà Tràng và gặp được ông Nguyễn Minh Dụ. Do tuổi tác đã cao, cụ nghe câu được câu chăng và buông câu:

-        Ông Nguyễn Duy Minh thờ ở đình làng chứ có thờ ở nhà tôi đâu?

   Chúng tôi cảm ơn ông và đi tham quan làng Hà Tràng. Vì thời gian có hạn, anh em tôi cũng chưa tìm được những minh chứng cụ thể, nhưng vẫn nghiêng về quê ông là người thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương?

          Khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Thái úy Tô Hiến Thành, người có công lớn trong việc khai khẩn vùng đất Vĩnh Bảo, chúng tôi phát hiện ra ông là Tiến sỹ Nho học thời Lý. Và trong quá trình “mò kim đáy bể” này chúng tôi đã phát hiện ra hai nhà khoa bảng là Đỗ Lương Tướng và Đỗ Thân Không là anh em ruột, quê thôn Phúc Lâm, lộ Hồng, nay là thôn Nam Tạ, xã Tân Hưng, đỗ khoa thi Thái học sinh thời Trần (không nằm trong danh sách hai ngàn tám trăm chín mươi tám nhà khoa bảng). Thôn dân Phúc Lâm vinh danh hai ông là thành hoàng, thờ bằng ngai và bài vị tại đình làng. Trước năm 1938 xã Nam Tạ còn giữ được hai sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 3 (1909) và Khải Định 9 (1924).

       Có thể nói số lượng những nhà khoa bảng quê huyện Vĩnh Bảo vào diện tốp đầu của thành phố Hải Phòng, nhưng xét về gia đình đỗ đại khoa, hay làng đỗ đại khoa, hay xã đỗ đại khoa thì Vĩnh Bảo còn thua một số làng xã ở thành phố Hải Phòng như ở xã Thạch Lựu, tổng Đại Phương Lan, huyện An Lão, phủ Kim Môn, nay là thôn Thạch Lựu, xã An Thái, huyện An Lão có ba cha con ruột đều đỗ đại khoa: Người bố là Nguyễn Kim, sinh năm 1470, đỗ đại khoa năm 1502, làm quan đến chức Hiến sát sứ và con trai là Nguyễn Chuyên Mỹ, đỗ đại khoa năm 1514, tước Văn Đẩu hầu, làm quan nhà Mạc tới chức Thượng thư cùng người con trai thứ hai là Nguyễn Đốc Tín đỗ Hoàng giáp năm 1514, tước hầu, làm quan nhà Mạc tới chức Thượng thư.

   Hay ở xã Lê Xá, tổng Nãi Sơn, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn nay là thôn Lê Xá, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy có bảy người đỗ đại khoa:

a-    Nguyễn Nhân Khiêm (1441 - ?) đỗ Tiến sỹ năm 1469, làm quan đến chức Đô cấp sự Trung bộ Công.

b-    Bùi Phổ (1463 - ?), đỗ Hoàng giáp năm 1487, làm quan nhà Lê đến chức Hiệu lý Viện Hàn lâm, thành viên Hội Tao đàn nhị thập bát tú

c-    Trần Bá Lương, đỗ Tiến sỹ năm 1499, làm quan nhà Lê đến chức Đông Các hiệu thư, Phó Chánh sứ Trung Quốc

d-    Phạm Gia Mô, đỗ Tiến sỹ năm 1505, làm quan nhà Lê đến chức Thượng thư bộ Lễ, tước Hoành Lễ hầu. Ông giúp nhà Mạc Đăng Dung lật đổ nhà Lê, sau nhà Lê trung hưng trả thù, ngay cả bia ở Văn Miếu còn bị  đục tên.

e-    Lê Thời Bật, đỗ Hoàng giáp năm 1514, làm quan nhà Mạc đến chức Thượng Thư, tước Văn Uyên hầu.

f-     Hoàng Thuyên (1500 - ?) đỗ Tiến sỹ năm 1538, làm quan nhà Mạc đến chức Tham chình và Hữu thị lang nhị bộ

g-    Nguyễn Huệ Trạch, đỗ Tiến sỹ năm 1538, làm quan nhà Mạc đến chức Cấp sự chung.

      Hay cùng xã Tú Sơn ngày nay còn thôn Nãi Sơn, xưa là xã Nãi Sơn, tổng Nãi Sơn, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn có hai người đỗ đại khoa là Đình nguyên năm 1757 Bùi Đình Dự và Tiến sỹ năm 1772 Nguyễn Quang Biểu, tên khác là Nguyễn Huy Biểu. Nên xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy ngày nay có tới chín nhà khoa bảng, có lẽ là xã có nhiều nhà khoa bảng nhất thành phố Hải Phòng. Theo truyền ngôn của thôn dân nơi đây vốn làng tên là Tú Sơn, nhưng bị triều đình phạt, bỏ bớt chữ “Hòa”.

     Ngoài ra còn có xã Khinh Dao, tổng Vụ Nông, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, nay là thôn Khinh Dao xã An Hưng, huyện An Dương có bốn người đỗ đại khoa là Tiến sỹ năm 1481 Lê Công Truyền, Tiến sỹ năm 1478 Hiếu Trung, Tiến sỹ năm 1581 Nguyễn Đôn với tước Tùng Lĩnh hầu và Tiến sỹ năm 1739 Phạm Đình Trọng (1714 – 1754), làm quan đến chức Bồi tụng, Thượng thư bộ Binh, hàm Thái tử Thái bảo, tước Hải Quận công, được truy phong tước Đại vương.  

   Trong khi đó ở Vĩnh Bảo có ba làng có ba người đỗ đại khoa đó là Hội Am (xã Cao Minh), Đông Quất (xã Tam Đa) và Cổ Am. Ba nhà khoa bảng ở Đông Quất (xã Tam Đa) là họ hàng gần với nhau. Nếu tính xã ngày nay thì Cao Minh có bốn vị đỗ đại khoa (Phạm Đức Khản, Nguyễn Cối, Đào Công Chính và Nguyễn Duy Tiếu), vẫn thua kém một số địa phương khác trong thành phố Hải Phòng và các tỉnh thành khác nữa.  

A-  Các nhà khoa bảng chính thức:

1-    Đỗ Lương Tướng (? - ?), người quê giáp Phúc Lâm, lộ Hồng, nay là thôn Nam Tạ, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, đỗ khoa thi Thái học sinh (Tiến sỹ) thời nhà Trần.

2-    Đỗ Thân Không (? - ?), em ruột Đỗ Lương Tướng, người quê giáp Phúc Lâm, lộ Hồng, nay là thôn Nam Tạ, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, đỗ khoa thi Thái học sinh (Tiến sỹ) thời nhà Trần.

3-    Phạm Đức Khản (? - ?), người xã Hội Am (tên Nôm là Cối, Cõi), huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ nhị  giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Thìn, niên hiệu Đại Hòa 6 (1448) đời Lê Nhân Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang.

4-    Đào Văn Hiển (? - ?), người xã An Bồ, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn An Bồ, xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Thượng thư bộ Hình. Phần mộ của ông mang tên Mả Nghè còn giữ được nằm ngay sát UBND xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo.

5-    Dương Đức Nhan (? - ?), người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang, tước Dương Xuyên hầu.

     Tác phẩm có bộ Tinh tuyển thi tập (tức Tinh tuyển cổ kim chư gia thi tập) là một hợp tuyển thơ chữ Hán rất nổi tiếng.

6-    Nguyễn Duy Tiếu (? - ?), người xã Đông Lại, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Đông Lại xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Tự Khanh.

7-    Nguyễn Cối (? - ?), người xã Hội Am (tên Nôm là Cối, Cõi), huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam  giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Đại Hồng Đức 9 (1478) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tự khanh.

8-    Nguyễn Sâm (? - ?), người làng Đông Tạ, tổng Đông Tạ, huyện Tứ Kỳ. Nay là thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông.

9-    Nguyễn Minh Đạt (? - ?), người xã Đông Quất, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Tràng, xã Tam Đa. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493) đời Lê Thánh Tông. Tên thần là Đại lý Tự khanh Quế Nham bá Nguyễn Tướng Công tôn thần. Làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, đi sứ nhà Minh, mất tại Trung Quốc. Trước năm 1938 có miếu thờ năm gian ở xứ Đồng Châu (xã Tam Đa ngày nay).

10-                    Nguyễn Bá Tùng (? - ?), người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương (cùng quê với Nguyễn Duy Tinh). Nay là thôn Tạ Ngoại và thôn Nội Tạ, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông.

11-                    Nguyễn Đình Tộ (1482 - ?), người xã Đông Quất, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Tràng, xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa thi năm Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508), làm quan đến chức Tham Chính sứ Hưng Hóa. Có tài liệu ghi nay là thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương.

12-                    Nguyễn Duy Tinh (? - ?), người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (cùng quê với Nguyễn Bá Tùng), nay là thôn Tạ Ngoại và thôn Nội Tạ, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh, cùng khoa thi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Làm quan tới chức Thừa Chính sứ, về trí sỹ.

13-                    Phạm Tri Chỉ (? - ?) người xã Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ. Nay là xóm Tường Vân, thôn Phương Tường, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thuần Phúc 4 (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Trước làm quan nhà Mạc, sau làm quan nhà Lê đến chức Hữu Thị lang.(còn nữa)