/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Tin trong Nước

110 năm Ngày sinh nhà văn Nguyễn Tuân - vang bóng mãi mãi

“Sự tồn tại và sức sống của các tác phẩm của Nguyễn Tuân chứng tỏ nó không chỉ Vang bóng một thời mà có thể nói là vang bóng mãi mãi”.

110 năm Ngày sinh nhà văn Nguyễn Tuân - vang bóng mãi mãi

 
(Thethaovanhoa.vn) - Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa và độc đáo, ông "là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa" (Nguyễn Minh Châu). Với tầm văn hóa sâu rộng có sự kết tinh văn hóa đông tây, kim cổ, với tâm niệm lấy văn chương làm lẽ sống, Nguyễn Tuân "chơi một lối độc tấu" trên văn đàn Việt Nam hiện đại.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Tuân
Sáng 5/7, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Tuân (1910 - 1987). Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tới dự.
 
Người suốt đời đi tìm và sáng tạo cái đẹp
Nguyễn Tuân sinh ngày 10-7-1910, tại làng Mọc (Nhân Mục) nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng phải sau ba năm ông mới nổi tiếng với bút pháp độc đáo, tài hoa trong “Vang bóng một thời” và “Một chuyến đi”... Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ông tham gia cách mạng và trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới với nhiều tập tùy bút, bút ký như “Sông Đà” (1960), một số tập ký chống Mỹ từ 1965-1975 và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước.

Nhà văn Nguyễn Tuân
 
Nhà văn Nguyễn Tuân
   
Ðời viết văn hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Tuân là một quá trình lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc. Về sau, khi đã ở đỉnh cao nghề nghiệp, ông vẫn không bao giờ tỏ ra lơi lỏng, hời hợt; mà ngược lại, luôn nghiêm khắc với chính mình. Ðây là một nhà văn "suốt đời đi tìm cái Ðẹp, cái Thật" (Nguyễn Ðình Thi), tự nhận mình là người "sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa".
Nguyễn Tuân luôn đau đáu tìm đến cái đẹp trong nền văn hóa để đưa cái đẹp đó vào văn chương. Trong tác phẩm “Tờ hoa”, nhà văn đã khẳng định: muốn viết được những trang văn như hoa thì phải lao động miệt mài như ong làm mật, phải xót lòng, đèo bòng như trai làm ngọc. Điều đó đã được minh chứng, Nguyễn Tuân suốt cuộc đời lao tâm, khổ tứ tích lũy tri thức mới có được tầm văn hóa sâu rộng, mới có những tác phẩm độc đáo đến vậy. Cảm hứng văn hóa có ở mọi lĩnh vực trong sáng tác của ông: văn hóa truyền thống, văn hóa nhân cách, văn hóa sinh hoạt đời thường, văn hóa thưởng thức, biểu diễn và sáng tác nghệ thuật…
Tấm lòng thiết tha với giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc của Nguyễn Tuân được thể hiện đậm nét trong “Vang bóng một thời”. Tác phẩm phục dựng lại những vẻ đẹp truyền thống đã qua và đang mất dần nhằm bảo tồn những tinh hoa của dân tộc. Tác phẩm như là viên ngọc quý, như một thứ đồ cổ càng nhìn càng thấy đẹp, càng để lâu càng quý. Và càng quý giá hơn khi Nguyễn Tuân khẳng định sức sống của vẻ đẹp hoài cựu trong giai đoạn lịch sử đầy áp bức, bất công lúc bấy giờ bằng một nghệ thuật tuyệt bích. Nguyễn Tuân mô tả một cách tinh tế và tài hoa những phong tục đẹp, những thú chơi nhàn tản và thanh tao, như thú uống trà, thưởng hoa, chơi cờ, chơi đèn kéo quân, thả thơ, thư pháp…
Những trang viết của Nguyễn Tuân có vẻ thâm trầm cổ kính không chỉ ở nội dung, cách phục dựng không gian và thời gian và cả sự trau chuốt từng câu chữ. Như nhà văn Vũ Ngọc Phan thừa nhận, “Vang bóng một thời” đạt “gần tới sự toàn thiện toàn mỹ”, hay như nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung cũng khẳng định “đạt tới bút pháp già dặn bậc thày, nhiều truyện có thể coi như toàn bích”.
Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn có rất nhiều tác phẩm viết về cảnh sắc Việt Nam, hương vị đất nước, linh hồn dân tộc, như: Phở, Cây Hà Nội, Cốm, Giò lụa, Tờ hoa, Tình rừng… Những áng văn đẹp đẽ, độc đáo và tài hoa mà ngoài Nguyễn Tuân, sẽ khó có ngòi bút thứ hai nào viết được.
Ngôn ngữ cũng là một đặc điểm nổi bật để khẳng định sự am tường và nặng lòng với văn hóa dân tộc của nhà văn Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân có vốn từ giàu có, phong phú, đặc biệt là vốn từ Hán-Việt. So với các nhà văn cùng thời thì Nguyễn Tuân rất chú ý dùng từ Hán-Việt nhằm đạt hiệu quả cao, tạo ấn tượng mạnh, trở thành một dấu hiệu nổi bật của phong cách. PGS.TS Hà Văn Đức cho rằng, Nguyễn Tuân kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ cổ xưa với ngôn ngữ hiện đại, sử dụng mặt mạnh của ngôn ngữ nhiều ngành nghệ thuật “để làm giàu có thêm cho ngôn ngữ văn học”. Còn nhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định câu văn Nguyễn Tuân vừa rất quy tắc, vừa phá quy tắc… “từng chữ một thì rạch ròi, sắc sảo như khắc vào đá, nhưng lại quần tụ trong một kiến trúc bập bềnh, chơi vơi”.
"Ông vua tùy bút"
Cá tính và mạnh mẽ, lối tự do phóng túng và sự ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến nghệ thuật tùy bút như một điều tất yếu. Tùy bút là sở trường của Nguyễn Tuân, tài năng của ông được phát huy cao độ ở thể văn này và chính ông đã có công lớn trong việc đưa thể loại tùy bút đạt tới một trình độ nghệ thuật cao. Tùy bút của ông thấm đượm văn hóa Đông Tây, không chỉ thấu hiểu triết lý mà còn thấm cả đạo lý, dù hấp thụ sâu sắc chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn thấy mình nặng tình với đất nước, với làng xóm, thấy mình có gốc rễ từ lịch sử.
Nếu như dòng tùy bút trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Tuân thấm đẫm sự kiêu bạc của "cái tôi” tác giả - một con người tài hoa, khinh bạc, muốn “nổi loạn” chống lại xã hội phàm tục, thì sau Cách mạng Tháng Tám, ông đã hòa mình vào cuộc sống nhân dân, rũ bỏ cái “tôi”, vươn lên thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ.
Các sáng tác giai đoạn sau cách mạng, Nguyễn Tuân chú ý nhiều đến khách quan, cái tôi đã hòa nhập với cái ta, với nhân dân và chiến sĩ. Tác phẩm của ông đã phục vụ kịp thời công cuộc chiến đấu và xây dựng tổ quốc. Điều đó được thể hiện trong nhiều tác phẩm, như "Đường vui", "Tình chiến dịch", "Tùy bút kháng chiến và hòa bình" , "Sông Đà", "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi"...
Nguyễn Tuân tiếp tục chú ý và có những phát hiện tinh tế, độc đáo, sâu sắc về vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, của văn hóa dân tộc, của con người Việt Nam. Nhân vật của ông vẫn có phong thái của những người tài hoa, tài tử, đó là hình ảnh anh bộ đội chống Pháp dùng hoa đào ngụy trang và đuổi giặc giữa rừng đào Tây Bắc, là tay lái ra hoa của ông lái đò vượt thác sông Đà, là những tù nhân chính trị đấu tranh đòi ngắm trăng đêm trung thu, là người tù Tô Hiệu trước khi khuất đi còn lẩy cái câu Kiều đào đông cười gió, là những pháo thủ thủ đô hào hoa và thanh lịch...
Khi viết về kẻ thù, ông cũng chú ý đến khía cạnh văn hóa để mà châm biếm và phê phán. Với lượng kiến thức uyên bác, Nguyễn Tuân vẫn chuyển tải vào văn chương một cách tài hoa bằng những câu văn giàu sức sống và có dấu ấn riêng. Phong cách tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân vẫn tiếp tục được khẳng định.
Ðặc điểm nổi bật của giọng điệu tùy bút Nguyễn Tuân chính là sự phong phú, đa thanh, thỏa mãn đến hoàn hảo những sắc thái tình cảm tinh tế nhất. Trong mọi tình huống nhà văn luôn có cách nói phù hợp, không chung chung, tạo được không khí cần thiết cho ý đồ nghệ thuật của mình.
Dường như một khi đã bắt đúng giọng thì không còn giản đơn là viết nữa, nhà văn trở thành nghệ sĩ, mặc sức vẫy vùng múa lượn trên đỉnh cao sáng tạo nghệ thuật. Như dòng sông Ðà "vừa hung bạo vừa trữ tình", mạch văn có lúc cuồn cuộn, ầm ào, gân guốc ; có lúc đằm thắm, sâu lắng, thiết tha: “Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo.
 
 Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tung rừng lửa, rừng lửa càng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá". "Con sông Ðà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân".
Nguyễn Tuân có lối ví von, so sánh thật chính xác, mới lạ; sự vật được miêu tả trong trường liên tưởng, cảm giác chuyển đổi tinh tế, bất ngờ: "Nước bể Cô Tô sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy ? (...)
Cái màu xanh luôn luôn biến đổi của nước bể chiều nay trên biển Cô Tô như là thử thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng. Biển xanh như gì nhỉ ? Xanh như lá chuối non ? Xanh như lá chuối già ? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng ? Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác. Nó xanh như cái màu áo Kim Trọng trong tiết Thanh Minh ? Ðúng một phần thôi…” (Cô Tô).
Nhà văn như mê mẩn trong ma lực của ngôn từ và truyền được trọn vẹn đến người đọc chất men say nhiều khi kỳ quái ấy. Ông có một kho từ vựng hết sức phong phú do cần cù tích lũy cả đời, với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ. Không chỉ góp nhặt những từ sẵn có, ông còn luôn có ý thức sáng tạo từ và cách dùng từ mới lạ.
"Hiu quạnh sống trong người mình và chung quanh mình, cái gì cũng gợi đến những ý vắng, lạnh và cũ và mỏi và ngừng hết. Ngồi ăn một mình cả một mâm cơm chiều nay, tự nhiên tôi có cái cảm tưởng gở dại là mình đã trở nên một người góa bụa, hoàn toàn góa bụa. Góa vợ con, thân thích, anh em bạn, góa nhân loại, góa tất cả. Bát cơm và vào miệng, chỉ là những miếng thê lương" (Chiếc lư đồng mắt cua).
 
Gần 50 năm hoạt động văn học liên tục, bằng ngòi bút tài năng của mình Nguyễn Tuân đã có những đóng góp to lớn, có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam... Sự ra đi của Nguyễn Tuân đã để lại một khoảng trống lớn khó mà bù đắp nổi trên văn đàn về cá tính, nhân cách, bút pháp và phong cách. Cuộc đời Nguyễn Tuân là một minh chứng, một định nghĩa sống về ý thức và tài năng của nghề văn. “Sự tồn tại và sức sống của các tác phẩm của Nguyễn Tuân chứng tỏ nó không chỉ "Vang bóng một thời" mà có thể nói là vang bóng mãi mãi”.
Diệp Ninh/TTXVN