/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Những bài khác

Không phải học để thành nhà văn

Nhưng chắc chắn, tôi khắc ghi mãi vào ký ức, cái học lớn nhất là học để thành người tử tế.

Không phải học để thành nhà văn

(Nhân kỷ niệm 35 năm thành lập Trường Viết văn Nguyễn Du, 1979 – 2014)

Trần Quang Quý 
 

Nhà thơ Trần Quang Quý

Tôi mon men đến báo chí, văn chương năm 17 tuổi, qua cách tự đọc, tự học, mày mò làm thơ, chưa có cơ hội được gặp các bậc đàn anh văn nhân nào chỉ giáo. Mãi ba năm sau, năm 1975, sau giải phóng vài tháng mới có bài thơ đầu tiên in trên Văn nghệ giải phóng. Đó cũng là lần đầu hồi hộp, sướng âm ỉ thế nào khi từ đồn biên phòng Dương Tơ, Phú Quốc lên tận Sài Gòn nhận nhuận bút, ba trăm đồng tiền ngân hàng Sài Gòn cũ và gặp các nhà thơ đã thành danh trong chiến tranh: Trần Mạnh Hảo, Trần Ninh Hồ, Trần Nhật Thu, Văn Lê… tại tòa soạn Văn nghệ giải phóng. Gặp và biết mặt thôi, cũng chưa có cơ hội để trò chuyện về nghề. Thế cũng mừng lắm rồi.

Giờ nhớ lại ngày ấy, chỉ có thể lí giải, có lẽ do hoàn cảnh chiến tranh, do môi trường của người lính buộc mình tìm đến cánh cửa khả dĩ có thể giải tỏa tinh thần chính mình lúc đó là thơ. Cũng có thể do cơ duyên nó buộc mình theo nghiệp văn chương, nghiệp “giời đày”, người trong giới vẫn nói thế, chứ chẳng phải là cái gì khác.

Nói vậy để thấy môi trường, tri thức, những nền tảng văn hóa cực kì quan trọng. Môi trường lính với những ngày tháng chiến tranh căng thẳng, buồn tẻ, với bao mơ ước dở dang, với cái sống cái chết, với những nỗi nhớ nhà, nhớ người thân da diết, những mối tình thời chiến đầy lãng mạn mà… làm thơ, viết văn. Trường Viết văn Nguyễn Du lại là môi trường đánh thức, kích thích, khai phóng những tiềm năng sáng tạo, hướng nó tích tụ thành nguồn mạch, thành dòng chảy thay vì nó tự mày mò, đặc biệt là với thế hệ chúng tôi, thế hệ những người lính cuối cuộc chiến tranh nhưng vô cùng khốc liệt, những năm đầu thập niên 70. Thế hệ của rất nhiều tài năng cơ nhỡ, hoặc vĩnh viễn nằm lại với cỏ cây sông núi.

Vì thế, khi có Trường viết văn Nguyễn Du thì mừng lắm. Mừng chẳng kém gì khi biết tin bài thơ đầu tay của mình được in báo. Nó còn là cái cớ để thoát khỏi những thói quen và lối mòn tư duy “tỉnh lẻ” lúc bấy giờ. Nó bù đắp cho những thiếu thốn tri thức, vốn văn hóa mà do lịch sử, hoàn cảnh xã hội làm cho mình nhìn hẹp, nhìn ngắn, nhìn lệch, nhìn phiến diện.

Và một ngày lạnh tê tái mùa đông năm 1982, tôi lẽo đẽo theo nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh (Hội văn nghệ Vĩnh Phú) về Hà Nội nộp hồ sơ dự tuyển, tưởng đã xỉu vì cảm lạnh, tá túc trong căn bếp tuyềnh toàng không vách của vợ chồng nhà thơ Phạm Tiến Duật, tại số 9 ngõ Yên Thế. Lại một ngày hồi hộp khác khi có giấy báo trúng tuyển. Thêm một lần anh Nguyễn Đình Ảnh phải sắm vai tổ chức của Hội Văn nghệ Vĩnh Phú, cọc cạch đạp xe sang Tam Thanh, nơi tôi làm việc ở Phòng Văn hóa - Thông tin để thương thuyết với ông Chủ tịch huyện lúc đó, với chiêu “đi học để phục vụ công tác ở huyện tốt hơn”, mới được ông thả về Hà Nội. Trước đó, đã có những ngày tưởng tan nát cõi lòng khi vị Trưởng phòng kiên quyết không cho đi học vì sợ… “mất cán bộ”, mất “nguồn”. Chỉ khi Chủ tịch huyện gật đầu ông ấy mới thở dài mà chiểu theo.

Vậy là, tôi, anh cán bộ văn hóa quốc doanh, nhập trường khi đã 27 tuổi, vẫn được coi là một trong vài người trẻ của lớp. Cùng hạ sơn có Hái sơn văn sĩ Văn Chinh (dân văn nghệ Phú Thọ vẫn gọi vui Sao Mai, Văn Chinh, Nguyễn Tham Thiện Kế, mấy vị văn chương ở gần núi Lưỡi Hái như vậy), cán bộ văn hóa huyện miền núi Thanh Sơn, Vĩnh Phú. Pờ Sảo Mìn, gã “Bật mã ôn” về từ tận Mường Khương, Lào Cai. Y Phương xuống núi từ Cao Bằng. Trần Đăng Khoa, Lê Hoài Nam từ bộ đội Hải quân lên. Hà Đình Cẩn, tay viết kí rất có duyên ở báo Quân đội, làm Trưởng lớp. Phùng Khắc Bắc khù khì làm Bí thư chi bộ. Đức Ban “quê mùa” từ Hà Tĩnh ra. Đặng Ái “hoãn” nghề chữa xe đạp ở xứ Thanh để làm sinh viên “Hà Lội chính cống”. Phạm Thị Minh Thư, đang nổi với truyện ngắn Có một đêm như thế đến từ Cục đồ bản. Phạm Sông Hồng từ Thủy điện Sông Đà về. Nguyễn Lập Em thân gái dặm trường ngược ra xứ Bắc từ Châu Đốc. Hai út ít Nguyễn Trọng Nghĩa, Trần Văn Chiến khăn gói quả mướp ra Thủ đô từ Cà Mau...

Lớp có 30 học viên, chia làm hai tổ, thơ và văn xuôi. Họ hầu hết là bộ đội hoặc cán bộ nhà nước đi học. Nhiều người đã thành danh, là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tôi được “cất nhắc” làm Tổ trưởng tổ thơ, gồm những Y Phương, Trần Đăng Khoa, Phạm Đức, Pờ Sảo Mìn, Trần Quốc Thực, Kim Chuông, Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Trác, Thanh Kim, Ngọc Bái, Nguyễn Văn Chương, Trần Thị Nhật Tân… Văn xuôi có Hà Đình Cẩn, Phùng Khắc Bắc, Văn Chinh, Phạm Thị Minh Thư, Hoàng Phương Nhâm, Nguyễn Lập Em, Phạm Sông Hồng, Đức Ban, Đặng Ái, Trần Tự, Đỗ Bảo Châu, Trần Dũng, Phạm Ngọc Chiểu, Lê Hoài Nam, Trần Hiệp…

Đó là những ngày cực gian khổ. Trừ những nhà văn ở Hà Nội, chúng tôi sống trong kí túc xá nhà tranh vách đất, xung quanh ba bề là ao bèo, đêm đêm ếch nhái kêu bì bọp, ộp oạp như chợ vỡ. Muỗi như vãi trấu. Rắn rết bò lượn quanh nhà làm nhiều phen hú hồn. Có năm lụt to, giường tủ, bàn ghế nổi lềnh phềnh trong phòng như củi lụt. Thủ đô giống như một cái làng ven sông ngày vỡ đê. Có chăng, khác nông thôn là có điện. Điện cũng phập phù, điện thường sụt áp đỏ lòm như đom đóm. Nước sinh hoạt có dạo phải xếp hàng nhiều phút mới lấy được vài xô. Một dạo nước khan hiếm, dân Trại Nhãn vào “cướp nước”, đánh nhau với cả sinh viên Trường Đại học Văn hóa đến đổ máu mũi. Nhiều hôm phải xách xô sang tận vòi nước công cộng phía sau dãy nhà Intershop, mặt đường Giảng Võ bây giờ để xách từng xô nước, gian khổ chẳng khác gì ở mặt trận. Một chậu nước phải dùng vào ba việc. Đầu tiên là vo gạo, nước vo gạo giữ lại để rửa rau, sau cùng là ngâm bát, rửa bát.

Đất nước đang những ngày khủng hoảng trầm trọng: lạm phát phi mã; đời sống cơ cực, nheo nhóc chưa từng thấy. Cả đất nước hoang mang, đói cơm thèm thịt. Đồ ăn có khi thua cám lợn bây giờ. Nhưng thật kì lạ, những văn nhân trường Nguyễn Du ăn cơm hẩm với tương cà, cá mắm lại cày cuốc văn chương như điên. Đói khổ mà vẫn vui, nghị lực lao động thật phi thường. Giữa mùa nóng nực, chân lồng tất trùm lên ống quần để muỗi khỏi “liên hoan”, rồi ai nấy bám bàn mà cặm cụi viết. Chả hiểu viết để làm gì, để đi đến đâu mà hăng thế, mà thương thế! Cũng có thể trong họ, không ít người đang mơ giải Nobel, đang du mục trong cõi thánh thi hoặc phiêu bồng trong trí tưởng tượng thật hoành tráng của cánh đồng văn chương ma mị, lộng lẫy?

Đêm khuya, thỉnh thoảng các phòng lại gọi nhau nheo nhéo “giải lao” như họp đội sản xuất. Một ấm trà đặc, một điếu thuốc cuộn, một hơi thuốc lào, một bát mì suông xì xụp húp. Và cứ thế, họ bàn những cốt truyện, những tứ thơ, tặng nhau một chi tiết, một hướng giải quyết vấn đề, cả những vấn đề chính trị, quốc kế dân sinh tầm quốc tế to, thế mới nẫu lòng. Sau đó họ lại về bám bàn cho tới 2 - 3 giờ sáng vì những trang viết tiếp theo. Không khí sáng tác rất hăng, người nọ kích thích người kia, người nọ như thi thức khuya với người kia. Phạm Ngọc Chiểu, đầu gối củ lạc, húp toàn mì “không người lái” (tức mì không mỡ, không hành) mà thức dai lắm. Tôi cứ nghĩ lão này thế nào cũng thành nhà tiểu thuyết lớn. Sáng mai họ lại mắt nhắm mắt mở ngáp vặt trên lớp. Có hôm ngẫu hứng xả stress, cả nhà quây lại bên chiếc điếu ục của Pờ Sảo Mìn, tại phòng Đặng Ái mà “bật bông” ghi ta, đập vỡ cả xoong nồi, đập thủng cả vách... hát đồng ca. Quậy đến nỗi, các em sinh viên văn hóa quanh khu kí túc xá cứ tròn xoe mắt, không hiểu cái lớp viết văn này là giống người gì mà lạ, mà “máu”, mà không chịu ngủ?

Chúng tôi may mắn, dù làm học trò muộn nhưng lại được học, được chỉ giáo về kỹ năng, tâm thế nhà văn với những vấn đề nhân văn mà văn học hướng tới, có thể gợi ý cho mình một hướng đi, một thi pháp của các nhà văn, nhà thơ lớn: Huy Cận, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Xuân Sanh, Nông Quốc Chấn, Kim Lân, Vũ Cao… Chúng tôi được học các giáo sư, các nhà văn hóa, giáo dục học, tâm lý học, sử học, dân tộc học, tôn giáo, thần học… hàng đầu, mà kiến thức uyên bác của họ có thể khai sáng tầm nhìn, sự tiếp nhận thế giới, phương pháp tư duy: Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Từ Chi, Đặng Nghiêm Vạn, Phan Ngọc, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Hồng Phong, Trần Đình Hượu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức... Ngoài việc lên lớp, mỗi học viên chúng tôi có một thầy phù đạo là các nhà thơ, nhà văn có uy tín, nhằm truyền đạt kinh nghiệm, kĩ năng sáng tác cho các trò. Thầy phù đạo của tôi là tác giả Núi Đôi, nhà thơ Vũ Cao. Tuy nhiên, hầu như mỗi lần gặp nhau ông chỉ nói chuyện đời, ít nói về văn chương. Nhà thơ Xuân Diệu “đỡ đầu” Trần Đăng Khoa. Tôi nhớ, một lần tổ thơ hội thảo nội bộ về thơ Khoa, do nhà thơ Thúy Bắc, cán bộ của trường phụ trách. Nhà thơ Xuân Diệu được mời “cầm cái” nói về những sáng tác gần nhất của Khoa. Ông lấy dẫn chứng một bài thơ của Khoa viết về chùa, đứng trước chùa gì đó. Nhưng ông nói rất dài, có cảm giác như ông lạc đề, vì chỉ thấy ông nói những chuyện loằng ngoằng về vũ trụ, thỉnh thoảng lại nhắc “Huy Cận, bạn tôi làm thơ mang tính vũ trụ…”, mãi không thấy đi vào cụ thể bài thơ của Trần Đăng Khoa. Chị Thúy Bắc sốt ruột, bèn thưa: “Xin anh nói vào…”. “Rầm”, Xuân Diệu đấm mạnh xuống bàn, cốc chén loảng xoảng: “Nói cho Thúy Bắc biết nhé, còn lâu mới có một Xuân Diệu nhé!”. Cả nhóm xanh mắt, lấm lét nhìn nhau, im phắc. Thúy Bắc nghẹn lời, chưa kịp thanh minh thì ông bỗng nhoẻn cười: “Thôi nhé, Thúy Bắc đừng buồn, Xuân Diệu biết chứ, Xuân Diệu nói về đời, về vũ trụ là để nói rằng, làm thơ phải hiểu sâu xa về văn hóa, về con người, về vũ trụ… Nhà thơ cần con mắt xanh mà người tầm thường không thể thấy. Viết về Phật phải hiểu cõi sâu xa của Phật, hiểu triết lí nhà Phật”.

Quả là, mỗi cá tính sáng tạo, mỗi nhà văn có một cách tiếp cận và “thuyết giáo” khác nhau. Vũ Cao thì toàn chuyện ngoài sáng tác, Xuân Diệu thì dẫn người ta vào chiều sâu tri thức này, có thể hơi “vòng vo”, để chỉ giáo điều kia. Thúy Bắc thì được một bài học về điều hành diễn đàn khi có Xuân Diệu. Tôi thì lần đầu tiên chứng kiến một góc tính cách Xuân Diệu mà bấy lâu chỉ nghe người khác thuật lại qua những giai thoại. Chẳng hạn, ông thích trứng vịt lộn, và thường đặt khẩu phần cụ thể món khoái khẩu này mỗi khi đi nói chuyện thơ ở đâu đó. Bấy giờ, trứng vịt lộn là đặc sản cao cấp, là của hiếm. Người ta bảo rằng, ông làm vậy là để những cơ sở đón tiếp nhà thơ, đón tiếp tài năng phải đàng hoàng, xứng đáng, không thể thua kém một ông bộ trưởng, Thủ tướng. Vì một ông bộ trưởng, ông lãnh đạo nào đó thì rất nhiều người làm được, nhưng nhà thơ Xuân Diệu thì chỉ có một mà thôi. Vả lại, các buổi đi nói chuyện thơ là tiêu hao năng lượng cao, cần phải được bù đắp để “tái sản xuất” (chữ ông hay dùng). Chính tại buổi hội thảo đó tôi thu hoạch từ ông về con mắt xanh của thơ, về ý tại ngôn ngoại, về thi trung hữu quỷ, về làm thơ tình mà không có từ yêu, rất tinh tế như thế nào. Mặc dù, thú thực tôi không thích thơ ông. Nguyễn Đình Thi thì cho một khái niệm khác của thơ: “Thơ là tiếng hát của trái tim hát về chính nó”; rằng khi người ta yêu sét đánh, gặp nhau là “phải lòng mặt” ngay, cũng đừng nghĩ đó chỉ là cảm tính. Ngay phút “sét đánh” ấy là đã có cả trái tim và lý trí rồi.

Tất cả những kiến thức trong sách và ngoài sách, những mối quan hệ đều là bài học. Tất cả đồng nghiệp ở lớp, mỗi cá tính sáng tạo, mỗi cuộc đời cũng là những mẫu hình, những kiến thức giao thoa, thẩm thấu và củng cố lẫn nhau. Còn nhớ một Trần Đăng Khoa, “Củ khoai tây” của lớp, khá giỏi làm món dưa chua bắp cải với rau răm, nhưng lại vụng khi tán gái. Tán gái thì gã gọi “gái” là thím, không biết gã diễn hay là thật, bằng cái giọng ngôn xuất tầm chính trị viên tiểu đoàn. Khi gã đau mắt và cực bi quan, tưởng đã lòa vĩnh viễn thì anh em trong lớp luôn ở bên gã. Một Lê Hoài Nam yêu mê mệt và bồng bột đến dại khờ vì “lần đầu tiên được yêu”, phải khốn khổ để gỡ rối cho lão. Một Pờ Sảo Mìn, chủ nhật nào cũng có món dạ dày lợn rán, chân giò luộc, là nơi thường tụ họp của các thi nhân Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu… Anh em ở nội trú cứ ngửi bếp Pờ Sào Mìn là rỏ dãi. Lúc ấy, chế độ tem phiếu cán bộ lèng nhèng như tôi một tháng chỉ được 6 lạng thịt, 1 ký đậu phụ… Chỉ có anh chàng Pa Dí “Cây hai ngàn lá” tên Mìn rủng rỉnh; sau này gã mới thú nhận là có buôn lậu vỏ chăn con công, phích Trung Quốc, và cái vân vân, gì gì nữa, mới có tiền mà ăn tươi “phè phỡn” như dạo ấy. Một Y Phương say yêu và nồng nàn thơ, đặc sắc. Một Văn Chinh nổi tiếng buôn chè, buôn gỗ trong những câu chuyện của cánh kiểm lâm, lâm nghiệp Thanh Sơn, huyện gã. Và tất nhiên, ta hiểu được vì sao ngay khi học xong gã đã xây được nhà trong làng Giảng Võ, thế mới kinh! Một Thanh Kim ngơ ngác, cù lần trước các em, đến nỗi mấy đứa trong tổ thơ chúng tôi phải cử nhau đi “tán gái” hỗ trợ mới nên duyên với một cô sinh viên khoa thư viện, tức nàng Hương, vợ gã bây giờ. Một Phạm Thị Minh Thư tinh nghịch, quái nhất trong đám đàn bà của lớp. Chính nàng đã đặt tên cho một truyện vừa của Văn Chinh: “A, em tìm ra rồi, tên nó là Tảng huyết giác một trăm năm”. Đoạn trích này là từ một lá thư của Thư gửi về từ chuyến đi thực tế sáng tác mùa hè năm cuối ở Thủy điện sông Đà, gã Văn Chinh bỏ tùm lum một mớ thư từ, giấy lộn bên bếp lửa, không biết do đoảng hay do để nhóm bếp còn sót. Nhưng anh em trong lớp đã manh nha biết cuộc tình của họ bắt đầu từ đấy.

Sẽ là miên man, chưa biết khi nào mới dứt chuyện, cả những chuyện cười đến chảy nước mắt của Trần Thị Nhật Tân, Nguyễn Thị Lập Em và chính bản thân người viết bài này, cũng như một số đồng nghiệp khác. Những câu chuyện rất tế nhị mà không tiện và không thể bê nguyên bản vào bài viết. Thế mà thấm thoát đã 35 năm ngôi trường và 29 năm Khóa II chúng tôi ra trường rồi. Thời gian tưởng như vừa hôm qua mà đã trải một phần ba thế kỉ. Phần lớn họ đã thành nghiệp, có vóc dáng, vị thế văn chương. Rất nhiều trong số họ đã hoặc đang là các tổng biên tập báo Trung ương; giám đốc, tổng biên tập các nhà xuất bản; giám đốc các sở văn hóa - thông tin; chủ tịch các hội văn nghệ tỉnh hoặc ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam: Trần Đăng Khoa, Y Phương, Trần Quang Quý, Ngọc Bái, Đức Ban, Trần Dũng, Phạm Sông Hồng… Phần lớn họ đã nghỉ hưu. Có người đã sớm ra đi, còn để lại bao dang dở trần thế như Phùng Khắc Bắc, Trần Quốc Thực, Đinh Quang Thanh. Phần lớn các thầy chúng tôi cũng ra đi rồi!

Không ai, không trường học nào có thể dạy thành nhà văn, thành tài năng, nhưng trường học là nơi trang bị hành trang kiến thức, kỹ năng, vốn văn hóa, lịch sử… cho nhà văn có thể đi tiếp những chặng đường dài, có thể mở rộng đường bay của từng cá thể sáng tạo, có thể rút ngắn những khoảng cách dư thừa, vô vị. Bởi cuộc sống và tri thức là mãi mãi vận động. Cũng như, khi tôi làm tờ báo Gia đình & Xã hội, một tờ báo được coi là năng động, táo bạo, là hiện tượng của một thời, nhưng khi đi học các lớp bồi dưỡng báo chí hiện đại ở nước ngoài, những nền văn hóa báo chí đi trước ta hàng trăm năm, mới vỡ ra rất nhiều điều mà có thể ta biết nhưng chưa khái quát, chưa tổng kết được, đặc biệt là việc tạo cho mình một tư duy mới và hiện đại. Thế thì, tội gì mà chúng ta bỏ lỡ cơ hội rút ngắn một con đường, một phương pháp cả hàng trăm năm nhỉ?

Những gương mặt bạn bè, đồng nghiệp dường còn thắp sáng những đêm lui cui mất điện. Xin được gửi lời tri ân, thành kính đến các thầy cô. Không phải ai học cũng thành “nhà” cả, điều ấy cũng bình thường. Nhưng chắc chắn, tôi khắc ghi mãi vào ký ức, cái học lớn nhất là học để thành người tử tế.

 

Hà Nội, 16/10/2009 - 12/11/2014
Theo hoinhavanvn