VIDEO
Tin nóng
QUẢNG CÁO
LỊCH
LIÊN KẾT
Về thơ văn bạn bè
KIM CHUÔNG - NGƯỜI THI SĨ ĐÀO HOA VÀ TÀI HOA
Trong lời tựa về các nhà văn quê Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đất Vĩnh Bảo - Hải Phòng, Kim Chuông có viết...KIM CHUÔNG - NGƯỜI THI SĨ ĐÀO HOA VÀ TÀI HOA
Tô Ngọc Thạch
.
Trong lời tựa về các nhà văn quê Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đất Vĩnh Bảo - Hải Phòng, Kim Chuông có viết: Trong hơn chục nhà văn đồng hương được coi như “một lứa bên trời”, tôi và Tô Ngọc Thạch có riêng kênh gắn kết…. Vâng! Câu nhận xét của anh khá đúng về hai tâm hồn giàu cảm xúc, dễ đồng điệu nhập hòa, được chiêm nghiệm qua năm tháng dài xa. Hay trong bài thơ Tặng bạn, anh như tháo lòng mình ra viết làm sáng lên cả thi tứ, lẫn thi ảnh: Ta cùng dòng dõi thi thư. Cùng làm lính trận cùng từ đất quê. Cùng mê thơ phú bề bề. Cùng run rẩy gặp trăng kề gió mây.
Hay cũng từ những xúc động nội tâm, ôm chứa tâm trạng, tưởng chừng như vu vơ ấy, mà ở tận cùng sâu thẳm ở từng con chữ, hay ở từng câu thơ, khiến bạn đọc phải ngẫm ngợi suy tư. Không có sự trống vắng quạnh hiu nào tệ hơn, khi tiếng lòng ngân vang, được thể hiện bài Một mình đăng tải ở Báo Hải Dương cuối tuần. Với cảm hứng thơ dồn nén: Mình ta gánh gánh, gồng gồng. Câu thơ thi sĩ đứt lòng ngày đau… Hay: Tứ thời ta một ta thôi. Một ta với đất trời ngồi nhâm nhi. Rồi biên độ thơ được văng xa: Ai lo cho bữa cơm nghèo. Ai nâng giấc những đêm nhiều trống canh, đã chạm tới trái tim bạn đọc.
Sau đó, một thi nhân quê gốc ở Ninh Bình đã bình bài thơ này và gửi đăng ở Hạnh phúc Gia đình của Báo Phụ nữ Việt Nam. Ngay sau tạp chí được phát hành, một cô giáo ở xã Lập Lễ huyện Thủy Nguyên, là cựu giáo sinh của bố tôi, thấy lòng trắc ẩn và làm “cầu nối tình duyên” cho Thi sĩ Kim Chuông. Chẳng hiểu do “bà mối” mát tay, hay cô bạn gái Kim Chuông si mê thơ phú, mà trong thời gian ngắn, cuộc tình của chàng thi sĩ và “nàng thơ” đã “đơm hoa kết trái”. Mặc dù trước đó có khối người “mai mối” cho Kim Chuông, mà tôi từng chứng kiến, song “chẳng nước non gì”. Thời gian sau, lúc tiếp xúc với “nàng thơ” của Kim Chuông, mới phát hiện ra “nàng” là em họ tôi và nhà văn Trung Trung Đỉnh. Và từ giờ phút đó trở đi, Trung Trung Đỉnh ngày nào cũng gọi điện thoại răn đe: “Ông Chuông ơi! Cái Hường nó là em gái tôi đấy. Ông có lấy nó, thì phải đầu cuối, phải gìn giữ trước sau nhé. Bằng không thì lánh xa ngay đi… Tôi sợ các bậc thi sĩ các ông trên thế giới này lắm…?”
Hay từ lúc về thành phố Cảng sinh sống, thì tôi là người đầu tiên tìm nhà cho Kim Chuông, nằm cùng tòa nhà với thi sĩ Trần Quốc Minh tại phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Hay sau đó, nhóm thi nhân gồm Kim Chuông, Trọng Khánh, Tô Ngọc Thạch, Hà Cừ và Vũ Thành Chung đã xuất bản chung tập thơ mang tên Những dòng sông cùng chảy. Và từ ngày xuất bản thi phẩm này, thì nhóm “Những dòng sông cùng chảy” chính thức ra đời. Nhiều lúc chỉ cần ới nhau một tiếng là mấy anh em tôi đã có mặt, lúc ở Hải Dương, lúc ở Thái Bình, lúc ở Hải Phòng, lúc ở Hà Nội, lúc ở Lạng Sơn, lúc ở Yên Bái, thậm chí lúc ở tận Bằng Tường, Trung Quốc...
.
.jpg)
Từ trái sang là các thi nhân: Vũ Trọng Thái, Hà Cừ, Nguyễn Hoa, Vũ Quần Phương, Tô Ngọc Thạch và Kim Chuông
Còn nhớ, cách nay chừng hơn chục năm, tôi và Kim Chuông có mặt tại nhà Cử nhân Trần Văn Tuấn, một người quen của con trai tôi ở bên tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Vừa tới nơi, tôi giới thiệu với Tuấn đây là Nhà thơ Kim Chuông, có nhiều năm sinh sống và công tác tại Thái Bình. Tuấn rất cảm kích, liền giang hai tay ôm chầm lấy anh và tươi cười nói: Giờ mới được gặp trực tiếp chú. Nhờ có hai bài thơ tình của chú là Cánh đồng hai ta và Hỡi màu trăng xa, mà cháu “cưa đổ” cô vợ nết na thảo hiền kia kìa. Tuấn liền gọi “bà xã” và các thành viên gia đình ra cảm ơn rối rít thi sĩ Kim Chuông. Và hôm đó, chúng tôi được thết đãi các món ăn ngon nhất của miền quê lúa nước Thái Bình… Rồi cách nay tám năm, tôi chuyển về quận Hồng Bàng - Hải Phòng sinh sống, thì tôi và Kim Chuông ở hai phường sát nhau, nếu có việc gì ới cái là hai anh em tôi đã có mặt. Viết ra mấy dòng như vậy, để bạn đọc hiểu thêm về tình cảm của hai thi nhân chúng tôi được thử thách qua năm tháng và đầy ắp những hoài niệm.
Thi sỹ Kim Chuông quê ở làng Nội Thắng (內勝社), tổng An Bồ (安蒲總), huyện Tứ Kỳ (từ năm 1838 trở đi thuộc huyện Vĩnh Bảo), nằm bên hữu ngạn sông Luộc và sông Thái Bình, nay thuộc xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Sinh ra và lớn lên trong gia đình Nho học, phụ thân anh là cụ đồ Vọng họ Nguyễn, từ lúc còn trẻ đã mở trường dạy học tại làng: Môn sinh theo học đầy nhà. Một vai phu tử, vai là thi nhân… Người như bến mở tháng ngày. Đò qua, hết chuyến đò đầy… lại qua. (Cha tôi).
Có phải cụ đồ Vọng mê nhân vật Kim Trọng trong “Nôm Thúy Kiều” chăng, hay mê kim chuông (金鐘), tức chuông vàng, mà thầy đã đặt tên cho con trai thứ ba của mình với cái tên như vậy. Tuổi thơ Kim Chuông gắn liền với những năm tháng rờn xanh, lúc chăn trâu cắt cói, lúc đánh giậm kéo vó, lúc săn cáy vớt rươi, lúc bắt cua ngôm, lúc vớt cá chết… Nếu như bây giờ quay lại mảnh đất xưa, chắc thi sĩ sẽ nhặt được nhiều mảnh ký ức còn rơi rớt trên các cánh đồng được trải dài ngang dọc mang tên các xứ công tư điền thổ cổ như: Thượng Triều; Trung Triều; Hạ Triều; Thượng Đồng; Trung Đồng; Hạ Đồng; Đồng Ninh; Trong Làng; Bãi Trong và Bãi Ngoài…
.
Nhóm "Những dòng sông cùng chảy" gồm: Kim Chuông, cố Trọng Khánh, cố Vũ Thành Chung, Hà Cừ và Tô Ngọc Thạch
Từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, cậu học trò Nguyễn Kim Chuông học khá toàn diện và giỏi về môn Toán và Văn. Có lẽ những lúc cha giảng bài cho các môn sinh, hay đêm đêm nằm bên được thầy giảng giải, vun đắp, cấy gieo vào tâm hồn trong veo thơ trẻ của Kim Chuông. Được thừa hưởng nền giáo dục của một gia đình Nho giáo và niềm say mê văn chương, Kim Chuông đã có những câu thơ sơ khai còn mộc mạc, giản đơn. Có lẽ từ lúc ấy hồn thơ trong anh được nhen nhóm, khơi mở từ sự “chỉ bảo” của người cha thân yêu của mình. Thế rồi, vào ngày 05 tháng 8 năm 1964 với việc dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mĩ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta bằng không quân và hải quân. Sau hơn bốn tháng, thì chàng thanh niên Nguyễn Kim Chuông trở thành “Người chiến sỹ trên đường đi cứu nước”…
Có lẽ từ lúc đó trở đi, nghiệp văn chương của anh bắt đầu phát lộ. Với những vần thơ dung dị, chắt ra từ trái tim đa cảm trong miền kí ức xưa vẫn tươi rói trong lòng: Từ buổi mẹ đưa tôi qua chuyến đò đầy. Đêm ấy nghỉ lại cánh rừng nghe hai chiều súng nổ. Tôi đã tìm được chính tôi trên vạt đồi sém lửa… (Về những cuộc hành trình). Hay với thi ảnh, thi liệu giàu có cuộc đời người lính trận được phản ảnh qua ngòi bút của nhà thơ quân đội Kim Chuông thật độc đáo, gây dư chấn trong lòng bạn đọc: Khi ngày mai tôi bước lên điểm chốt. Khi ngày kia súng gọi phía chân trời (Về những cuộc hành trình). Hay những câu thơ giàu hình ảnh, hình tượng lay động tới cảm thức của độc giả như: Khi vai khoác ba lô, ngực quàng súng thép. Cùng đồng đội bước giữa lòng đất nước. Tiếng nhân dân, Tổ quốc gọi sôi lòng (Về một người ra trận). Hay trong bài Biển cả và bố con người đánh cá bởi những ám ảnh day trở, suy tư về số phận ngư dân bởi câu giả định, chất vấn nội tâm trở thành mạch quen trong cách lập tứ, lập ý trong thơ: Sáu mươi năm dìm mình dưới biển sâu. Mà lòng vẫn khô cằn không giọt nước. Hay trong bài Về những chùm mây với câu thơ đẹp thanh thoát, cách dùng từ lạ, khá sáng tạo bởi Chùm mây ca dao nghiêng giấc võng nằm.
Đặc biệt ở các chủ đề khác về cuộc sống đời thường, hay về quê hương đất nước, ở nhiều bài tôi có thể lượm ra được những câu thơ đẹp như: Tháng Tư ơi, trên cánh đầm lầy. Cơn gió ngủ trong bãi lăn giờ đẫm mùi vôi vữa. Hay: Mơ rằng cây mía đơn sơ. Bao năm theo mẹ ngẩn ngơ chợ làng. Mồ hôi mặn chát từng hàng. Mà cây mía ngọt thơm vàng sắc hương. Đồng làng bóng mía thân thương. Không che nổi bóng mẹ thường đi qua… (Kỷ niệm tháng Tư của Trường ca Miền đất thức).
Hay câu thơ Hai mươi tám vạn dân Thái Bình… như Hai mươi tám vạn vành tang thắt ngang mỗi lòng người đang sống, thật ám ảnh day trở về thân phận cuộc đời con người vào năm đói 1945. Hay: Trong tay chùm số tôi cầm. Thấy muôn hạt giống cựa mầm sinh sôi. Bay về với cánh đồng ơi. Muôn cây lúa sẽ bời bời lên xanh… Hay câu kết của bài Tự sự trong trường ca này thật thi vị: Tôi nâng chùm số nặng đằm. Và gieo vào đất hạt mầm lòng tôi (Độc thoại về chùm số thống kê trên vùng quê lúa).
Đặc biệt, thơ văn xuôi trong bài Nhận biết như một vệt loang ngân nga từ cảm hứng xoáy xiết vào hồn độc giả: Đất có người hiền, tiếng gió thở bên trời cũng khác. Cây cỏ cầm lên ngân khúc nhạc, cây đa, mái đình, lối ngõ có tai nghe. Mỗi người, mỗi người, mỗi cá thể tách ra. Vẫn thấy dáng làng trên gương mặt họ… Hay trong bài Thủy Nguyên, ở nơi này tôi có với sức gợi, lay động bởi thế giới trực quan: Tôi có với Thủy Nguyên một thằng bạn vàng. Những năm chiến tranh cùng rời quê lên đường đánh giặc. Hai mảnh đời, hai lối đi từ ngõ nhà nối vào đường đất nước. Hai khoảng trời tìm, hai nhịp đập con tim… Hay: Bạn ơi, bạn ơi! Nhiều đêm, nhiều đêm… Hồn tôi tanh bành gió. Mảnh trăng Thủy Nguyên neo mãi chiếc neo vàng.
Hay trong bài Lối về, với lối ví von khéo léo để truyền tải những cảm xúc của mình về điều mình cần nói: Xưa Kim Trọng yêu Kiều chỉ có một vành trăng, với hai miệng người yêu ngước lên trời nguyện thề thành ba vành trăng khát. Mười lăm năm lưu lạc, dưới trăng khuya họ vẫn sợ lời thề, sợ lòng họ xấu đi, vầng trăng biết…
Khi đọc Kim Chuông, thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo có nhận xét rằng: Thơ anh hào hoa và đào hoa. Có thể thấy, ở đấy sợi dây ngân rung từ tâm hồn dễ đắm say, mê cảm. Một nỗi buồn đẹp và da diết… Hay Nguyễn Trọng Tạo còn nhận xét về đồng nghiệp của mình như sau: “Kim Chuông là nhà lục bát vùng đồng bằng sông Hồng”. Có lẽ ở từng từ ngữ, hay ở từng câu thơ được trải rộng trên “cánh đồng ngang dọc Sáu Tám”, người đọc dễ dàng tìm ra những câu “đinh” của Kim Chuông như: Em như một mảnh trăng chìm. Cầm lên thì mất, đứng nhìn thì đau (Câu thơ tôi viết). Hay: Tơ non đến thế là cùng. Bên em núi đá xem chừng cũng non (Tôi và em). Hay: Đêm nay hai đứa lặng thầm. Nghe tim bạn đập nhịp nhầm tim ta (Viết tặng Trọng Khánh). Hay: Ba ta như cánh lá hiền. Nắng lên là biếc, gió tìm là xanh (Ba ta một lứa bên trời). Hay: Hôm em cúi xuống gội đầu. Làm tôi chết đuối bên cầu ao quê (Em xưa). Hay: Tay nâng khuy cửa em cài. Đêm nay có trận mưa ngoài cơn mưa (Mưa).v.v
Có lẽ trời phú cho Kim Chuông về sức khỏe, đôi lúc anh chỉ mong mình ốm đau một chút, để “người bạn đời” chiều chuộng một lần, nhưng cũng chẳng được. Với câu lục bát trữ tình, khéo léo chất chứa nội tâm: Ta không biết ốm đau gì. Lạy trời, ta ốm ai đi chợ chiều (Một mình). Hay trong bài Ba ta một lứa bên trời với dáng vẻ tưng tửng nghênh ngao lúc cảm xúc thăng hoa và người thơ tự nhận mình là: Đứa vương vào nợ thơ tình. Đắng cay đổ cả lên mình vẫn say. Và những bài thơ tình “tuyệt cú mèo” lũ lượt theo nhau trình làng như: Tôi và em; Mùa thu; Câu nói ngập ngừng; Bây giờ lại nói về em; Em ngồi dệt nón; Cánh đồng hai ta; Lại viết về tôi; Và lại viết về tôi nữa; Ngàn năm; Hai ta; Gió mềm; Hình như; Kỷ niệm; Tôi còn chút ấy; Bây giờ, này em; Em xưa; Tự vấn; Đêm qua; Thơ vui tặng em; Tự thú; Luật; Vào xuân; Với xuân; Thị Màu; Giải oan Thị Màu; Anh Nô; Tự Bạch II; Mưa.v.v. Nếu bây giờ có ai hỏi Kim Chuông đã viết bao nhiêu bài thơ tình, thì chính tác giả cũng không thể trả lời được câu hỏi này. Lúc nào tôi cũng thấy năng lượng trong Kim Chuông thật dồi dào, ở tuổi U tám mươi song ở bất kỳ hoàn cảnh nào xúc cảm về tình yêu trong anh cũng dễ bùng nổ và những vần thơ tình lúc nào cũng sẵn sàng ra đời.
Còn một mảng đề tài nữa về thơ “dành cho thiếu nhi”, mà tôi không thể không nhắc tới, đó là các thi phẩm đã xuất bản: Trăng cửa rừng, Nhà Xuất bản Kim Đồng năm 1989; Nhện đi đò, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình năm 1994; Giọt nắng đi tìm, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2012… Trong đó, một số bài đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn vào sách tiếng Việt tiểu học: Hạt thóc ở lớp 3 tập II; Bé xem tranh ở lớp 2 tập II. Với những dư vang trong trẻo bởi thế giới trực quan sinh động với cái nhìn ngộ nghĩnh và giàu nhạc điệu: Bạn nhỏ li ti. Mặn mà thơm trắng. Là biển là nắng. Nhưng lại là mình. Bạn là hạt muối. Riêng màu kết tinh (Hạt muối). Hay ở bài Hạt thóc với câu kết khá hồn nhiên, tạo ra sự đột khởi bất ngờ với vẻ đẹp thiện tính, trong veo: Thóc nằm như giấc ngủ ngon. Mà lòng thao thức như con mắt nhìn. Hay với những quan sát tinh tế, khắc họa sống động, Kim Chuông đã dẫn bạn đọc nhí tới một thế giới trẻ thơ nhuần tươi vui nhộn: Bắp ngô nghịch ngợm. Níu mình trên cây. Như là em nhỏ. Chơi trò đu bay (Vườn Ngô)…
Tiếp theo là phần văn xuôi, với những truyện ngắn Dưới đám mây xa, Nẻo khuất, hay Cậu Quýnh lấy vợ bởi cốt truyện khá ấn tượng, được phản ảnh bằng thế giới sinh động, bằng lối viết tinh tế kín kẽ, lời văn hào sảng, đã làm nổi bật những những giá trị nhân văn sâu sắc. Hay thật bất ngờ ở tiểu thuyết Nửa khuất mặt người, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2005 thể hiện sức cảm, sức nghĩ với nội dung truyện thật hấp dẫn, bởi nhân vật là một “viên quan hàng tỉnh” lợi dụng chức quyền ham hố, vô liêm sỉ tột độ. Bằng lối viết dí dỏm, hóm hỉnh, có lớp có lang, hai cha con y được phản ảnh rõ nét qua từng trang viết, đã khẳng định giá trị nghệ thuật tác phẩm của một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp.
Khoảng trên chục năm trở lại đây, Kim Chuông liên tục cho ra đời những “đứa con văn xuôi” của mình như: Miền tấn phong Chúa đảo Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2013; Trong bóng ngày đi Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2018; Làng Thắng năm tháng ấy và tôi” xuất bản năm 2025… đã khẳng định năng lực, phẩm chất của một nhà viết văn xuôi đích thực. Với cốt truyện độc đáo, kết cấu tình huống khá hấp dẫn, đã đưa người đọc hết bất ngờ này tới bất ngờ khác. Bằng bút pháp khá tinh tế, tự nhiên trong mạch truyện, Kim Chuông đã gặt hái được khá nhiều thành tựu về đề tài văn xuôi và tạo dựng được vị trí vững chắc của mình bên cạnh các thể loại văn học khác.
Như Nhà văn Italia Claudio Magris viết: “Văn học không quan tâm đến những câu trả lời do nhà văn đem lại, mà quan tâm đến những câu hỏi do nhà văn đặt ra, và những câu hỏi này, luôn luôn rộng hơn bất kì một câu trả lời cặn kẽ nào”. Ở góc độ khách quan, thì người sáng tác hiểu rõ hơn về công chúng của mình qua những người làm lý luận phê bình văn học. Ở mảng đề tài này trong văn đàn Việt ngày nay, ta không thể không nhắc đến Kim Chuông, “một cây lý luận phê bình văn học” tài hoa. Tới thời điểm hiện tại, anh đã cho ra đời hai tập sách khá dầy dặn như bức tranh đa dạng, đa sắc màu về “Tiểu luận và chân dung văn học” gồm: Nhìn từ áng văn chương, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2012; Văn chương và bạn văn, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2019 và rất nhiều bài viết khác nữa. Với những phát hiện ở tầng chìm, ở góc khuất, hay qua các góc nhìn, hay ở sự giao thoa kết hợp giữa cổ và kim, giữa Đông và Tây. Từ đó làm tăng mối quan hệ giữa bạn đọc và người viết ở những giá trị sáng tác, sáng tạo của tác phẩm, hay sở trường sở đoản của tác giả. Những lý luận phê bình này trên cùng một nền tảng nhận thức, tạo ra một thước đo giá trị để đội ngũ những người cầm bút tiếp nhận những giá trị nhân văn và nâng cao chất lượng về trang viết của mình. Từ những nỗ lực đó đã đưa các tác phẩm văn học ngày càng có chất lượng hơn.
Qua đây người sáng tác rút ra được những kinh nghiệm, để hoàn thiện hơn con đường sáng tác của mình với nhãn quan rộng mở hơn. Hay nhiều lúc, tôi có cảm giác như Kim Chuông lôi “gan ruột” mình ra mà viết. Ở mỗi một bài lí luận phê bình, hay chân dung văn học, anh thường quan sát ở nhiều góc độ khác nhau để đưa ra những nhận định, quan điểm khác nhau dù là thơ, văn xuôi, hay dịch thuật… Tạo ra những thành quả của quá trình nuôi dưỡng cảm hứng, thai nghén sáng tạo để tạo ra những tác phẩm văn học hấp dẫn, sinh động.
Ngoài công việc sáng tác, Kim Chuông còn tham gia vào việc giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng cho các em có năng khiếu về văn học ở tỉnh Thái Bình. Lớp học này trải dài mười lăm năm liên tục từ năm 1976 với chừng hai trăm “nhà văn nhí” mang tên “Búp Trên Cành”. Sau này có khá nhiều em trở thành giáo viên văn, nhà báo, nhà văn có danh ở khắp mọi miền của Tổ quốc và ở nước ngoài. Trong số đó, mười một em trở thành Hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật của nhiều tỉnh thành và ba em là Phạm Hồng Oanh, Bùi Thị Biên Linh, Trương Minh Hiếu trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam…
Qua sáu chục năm cầm bút, gia tài văn chương của Kim Chuông thật đồ sộ, đến nay anh đã trình làng bốn mươi mốt “đứa con tinh thần” của mình bao gồm hai mươi lăm tập thơ, còn lại là văn xuôi và lí luận phê bình văn học. Để kỷ niệm tình bạn trong nhóm “Những dòng sông cùng chảy”, cách nay hơn chục năm, tôi có bài thơ Vườn địa đàng tặng thi sĩ Kim Chuông nhân ngày khánh thành nhà mới tại quê: Bạn dệt những câu thơ thành tấm áo làng chèo. Khâu tứ thơ vào đường viền lóng lánh. Xâu con chữ theo đường kim dọc dài năm tháng. Lợp mây nhạt ban chiều vào căn nhà kí ức phôi phai. Toà lâu đài mộng ước tương lai. Mạch vữa thời gian xù xì muôn hoài niệm. Lất khất đêm ánh trăng gồ ghề miền quê thân thiện... Gió lả lơi mơn trớn triền hoang. Mấy mươi bậc thời gian trở lại cố hương lập Vườn địa đàng. Trồng khế ngọt trên con đường chênh vênh bên cầu “Ô Thước”. Mưa giăng giăng nối dài nhịp bước. Hạt bật mầm cây nảy lộc chồi văn. Những trang đời nhuộm ánh trăng non. Nụ cười trong veo hồn nhiên một thuở. Xới tháng ngày. Để tìm một nửa. Nắng biếc xanh. Gió lộng bốn phương trời.
Hải Phòng, xuân 2026
T.N.T
Các tin khác
-
THƠ TRẦN NHƯƠNG VỚI CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI
-
VŨ BÌNH ĐỊNH VỚI “LỤC BÁT CHO EM”
-
“CHỒNG CHUNG CHƯA DỄ AI CHIỀU CHO AI”
-
HƯƠNG QUÊ - BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ…
-
Làm người là khó… – Tiểu luận của Bùi Việt Thắng
-
ĐẶC SẮC BÚT KÝ VÀ TẢN VĂN CỦA TÔ HOÀNG
-
TÌNH NGƯỜI VÀ TÌNH ÁI TRONG THƠ TRẦN NHƯƠNG
-
Vũ Thành Chung – Một đời thơ còn lại?
-
KHAO KHÁT THỂ XÁC MÃNH LIỆT TRONG “ĐÊM LẠNH” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
-
KHAO KHÁT THỂ XÁC MÃNH LIỆT TRONG “ĐÊM LẠNH” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

