/Cỏn con một sợi lông mày. Mà đem cột trái đất này vào anh/ Thơ Trần Mạnh Hảo

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

THỊ LANG - DƯƠNG XUYÊN HẦU - TIẾN SỸ DƯƠNG ĐỨC NHAN

Dương Đức Nhan, tên húy là Dương Tiến Đức, người ấp Dương Xuyên, sau là xã Hà Dương, tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương

THỊ LANG - DƯƠNG XUYÊN HẦU - TIẾN SỸ DƯƠNG ĐỨC NHAN - NHẠC PHỤ TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

.

       Tiến sỹ Nho học Dương Đức Nhan, tên húy là Dương Tiến Đức, người ấp Dương Xuyên, sau là xã Hà Dương, tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Sinh vào tháng chạp niên hiệu Bảo Đại thứ 2, năm Tân Dậu (tức tháng giêng năm 1442 dương lịch). Bố đẻ là Dương Tiến Tài, hậu duệ đời thứ 2 họ Dương gốc quê Thanh Hóa. Ông được lãnh đạo Đà Nẵng vinh danh và tên ông được đặt cho một con phố ở quận Cẩm Lệ.

       Vùng đất lục tổng huyện Vĩnh Lại (từ 1838 trở đi là Vĩnh Bảo) trước đây là huyện Đồng Lợi, đầu thời Lê sơ (1428 – 1527), vì kiêng tên húy vua Lê Lợi, đổi thành huyện Đồng Lại. Vào năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông, huyện Đồng Lại đổi thành huyện Vĩnh Lại thuộc phủ Hạ Hồng, thừa tuyên Nam Sách. Cùng năm này (1469), thì thừa tuyên Nam Sách đổi thành thừa tuyên Hải Dương và năm Hồng Đức thứ 21 (1490) thừa tuyên Hải Dương đổi thành xứ Hải Dương. Năm Hồng Thuận nguyên niên (1509) xứ Hải Dương đổi thành trấn Hải Dương. Còn mảnh đất Tả Thị lang – Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan sinh sống lúc ấy là ấp Dương Xuyên (陽川). Từ đầu thế kỷ XVI, ấp này phát triển thành hương Hà Dương (河陽).

       Từ thời nhà Mạc (1527 – 1592) đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) địa danh trên là xã Hà Dương thuộc tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Từ năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến năm Thành Thái thứ 2 (1890) là xã Hà Dương, tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, trấn rồi tỉnh Hải Dương. Từ năm Thành Thái thứ 2 đến năm thứ 13 (1890 - 1901), thì tổng Hạ Am cùng với tổng An Lạc, tổng Kê Sơn và sau cùng là xã Tranh Chử (tổng Bất Bế) gia nhập vào ngôi nhà chung Vĩnh Bảo, trong đó huyện Vĩnh Bảo đã được thành lập từ năm Minh Mạng thứ 19 (1838).

       Cuối năm 1952, huyện Vĩnh Bảo được cắt từ tỉnh Hải Dương về tỉnh Kiến An và cuối năm 1962, thì tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng hợp nhất. Từ đó tới nay quê hương của Tả Thị lang - Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

 

Có thể là hình ảnh về văn bản

     Quay lại bánh xe thời gian!

     Thủy tổ dòng họ Dương nơi đây là Dương Công tự Hiếu Trung tham gia quân đội nhà Hậu Trần đời vua Trần Quang Đế đánh giặc Minh vào đầu thế kỷ XV tại vùng Thượng Hạ Hồng (nay thuộc các huyện Chí Linh, Ninh Giang, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo và Thanh Miện) dưới sự chỉ huy của nhà Vua và Tướng quân Nguyễn Cảnh Dị. Sau chiến thắng giặc Minh, ông tổ họ Dương về mảnh đất bên triền Tả sông Tranh nối dài (từ cuối thế kỷ XIX là sông Hóa) này khẩn hoang. Rồi ông kết hôn với bà họ Nguyễn sinh ra hậu duệ đời thứ hai là ông Dương Tiến Tài vào thập niên hai mươi của thế kỷ XV. Đến cuối niên hiệu Đại Bảo thứ 2, năm Tân Dậu (01/1442), thì hậu duệ đời thứ ba ra đời là cậu bé Dương Tiến Đức (楊進徳). Càng lớn Tiến Đức càng khôi ngô tuấn tú, đặc biệt rất sáng dạ. Mười ba tháng đã nói sõi, ba tuổi đã biết khuôn phép, lễ nghĩa. Lúc đến tuổi đi học, gia đình mời thày về dạy, cậu bé Dương Tiến Đức hiểu bài rất nhanh, nhất là văn chương, “bách gia chư tử” đều thông thuộc làu làu.

     Tuy nhà chẳng dư dả gì, nhưng được ông bà Dương Tiến Tài cố gắng hết sức lo cho Dương Tiến Đức ăn học. Không phụ lòng cha mẹ và người thân, nho sinh Dương Tiến Đức, học hành ngày càng tấn tới và còn được biết đến là học trò xuất sắc của Thám hoa khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) Lương Như Hộc, quê ở huyện Trường Tân (nay thuộc phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Trước khi thi hương ông lấy hiệu là Đức Nhan (徳顔). Thời gian sau Dương Đức Nhan đã dày công sưu tầm, biên soạn cho thi phẩm “Tinh tuyển chư gia thi tập” với hàng trăm bài thơ đề vịnh, cảm hứng, tức sự, tiễn tặng của các thi nhân thời Trần và Lê sơ như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn,… được thầy Lương Như Hộc bình và chấm câu. Hiện nay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được tập sách này với 558 bài.

     Đến khoa thi Đình năm Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) đời vua Lê Thánh Tông, Dương Đức Nhan đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân (Tiến sỹ) cùng với nho sinh Nhữ Văn Lan (ông ngoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) và nho sinh Đào Văn Hiển, người xã An Bồ (nay thuộc xã Dũng Tiến cùng huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) sau này là Thượng thư bộ Hình, mà dưới ông là Tả thị lang bộ Hình Dương Đức Nhan. Và nho sinh Lưu Công Ngạn, người làng Do Lễ, tổng Phục Lễ, nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đỗ Hoàng giáp cùng khoa thi. Tên của bốn nhà khoa bảng Hải Phòng trên được khắc ở Bia đá Tiến sỹ số 3 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), do Hiển cung Đại phu Hàn lâm viện Thị giảng Đông các Hiệu thư Đào Cử soạn lời. Cẩn sự Thị lang Trung thư giám chính tự Nguyễn Tủng viết chữ và Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại khắc chữ. Bia được dựng ngày 15 tháng 8 năm Hồng Đức thứ 15 (1484).

     Sau khi đỗ đại khoa, Tiến sỹ Dương Đức Nhan làm quan tại Thăng Long với thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của thời Hậu Lê cũng như suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam. Trong thời gian làm quan trong triều, ông đã tham gia soạn thảo bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: Luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân - gia đình, luật hành chính,... Với kiến thức uyên thâm và tài ngoại giao, giỏi ngoại ngữ ông đã được triều đình nhà Lê sơ cử đi sứ nhà Minh.

     Lúc làm quan tại Thăng Long, ông đã đưa gia đình và con cháu lên Thăng Long sinh sống. Do có nhiều cống hiến cho đất nước, Tiến sỹ Dương Đức Nhan được vua Lê ban tước Dương Xuyên hầu, đây là một tước khá cao, mà chỉ có ông và con rể út của ông là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có được tước này của các đại quan quê huyện Vĩnh Bảo trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Cùng với việc phong tước hầu là việc kiến địa (ban tặng đất đai) ở ấp Dương Xuyên. Rồi vào năm Cảnh Thống thứ 4 (1501) đời vua Lê Hiến Tông ông về trí sỹ tại quê, có đưa theo phu nhân và cô con gái út Dương Thị Ý ở tuổi thập tam (13).

     Số ruộng đất mà vua ban, ông đã hiến tặng cho làng tổng và xây dựng nhiều công trình công cộng phục vụ đời sống dân sinh của thôn dân nơi đây như: Làm đường, xây cầu, làm chùa…cũng như mở trường dạy học tại quê, sau này là thực địa khu Văn chỉ của làng. Nghe danh ông, rất nhiều học trò từ xa kéo đến khá đông, trong những số trò thông minh, hiếu đễ trên, ông rất có thiện cảm với cháu ngoại bạn Nhữ Văn Lan là Nguyễn Văn Đạt.

     Thời thơ ấu Văn Đạt học tại chùa trang Úm Mạt (tên Nôm là Mét, nay thuộc xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo) do tú tài Trần Ông Sóc trực tiếp giảng dạy. Do học “hết chữ của thầy”, gia đình ông Nguyễn Văn Định phải xin đến học trường của Tiến sỹ Dương Đức Nhan vừa mới mở khi ông về trí sỹ, lúc đó Văn Đạt mới tròn chục tuổi. Với trí nhớ siêu phàm, tài năng vượt trội, trò Văn Đạt đã chiếm được tình cảm của cả gia đình thầy Dương Đức Nhan. Rồi tình yêu giữa Nguyễn Văn Đạt và cô con gái út của thầy là Dương Thị Ý nảy nở. Theo tương truyền dân gian chuyện tình lãng mạn đó có thể tóm tắt như sau:

     Tại khu vực ấp Dương Xuyên cũng như cả lục tổng huyện Vĩnh Lại này thường xuyên bị ngập mặn, nhiều giếng nước ở các làng xã vào mùa khô từ tháng Mười năm trước đến hết tháng Ba năm sau đều là nước lợ, chỉ có một chiếc giếng nước ngọt ở mé làng. Hàng ngày cô con gái út Dương Thị Ý phải đến giếng thơi này gánh nước về ăn uống và sinh hoạt. Lần đầu cậu học trò Nguyễn Văn Đạt quốc bộ từ nhà mình tới nhà thầy, vì đường xa nên cậu ta ngồi nghỉ ở khu vực gần giếng cho đỡ mệt. Vừa lúc đó thấy một tiểu thư kiều diễm đang ra lấy nước, khiến Văn Đạt choáng ngợp với vẻ đẹp kiêu sa của tiểu thư và mạnh bạo tiến đến gần nhìn say đắm, làm cô gái xấu hổ bỏ cả gánh nước chạy trốn. Văn Đạt có phần hối hận về thái độ “sỗ sàng” của mình, nhưng mắt vẫn nhìn theo lưu luyến. Thấy chiếc đòn gánh, chàng mừng thầm nhặt lên và viết bốn chữ “Huyền lý hảo cầu” (玄里好求).

     Cô gái chờ cho chàng trai kia đi xa mới dám quay lại lấy đòn gánh, đọc bốn chữ này nhưng không hiểu có ý tứ gì, bèn vội vàng trở về thưa chuyện với cha. Thấy con gái mình mặt còn đỏ vì ngượng ngùng, lại hỏi ngay ý tứ của dòng chữ trên đòn gánh. Biết có chuyện vui, người cha đọc to bốn chữ rồi cười lớn và giải thích “Huyền lý hảo cầu” nghĩa là từ nơi xa đến tìm điều tốt lành. Nói xong ông hỏi con gái:

- Ai viết cho con những chữ này?

- Dạ, đó là một anh học trò qua đường. Con gái đáp.

- A ha, phải chăng chàng trai này muốn nói mình từ nơi khác đến tìm người con gái tốt để làm hồng nhan tri kỷ? Với khẩu khí này ta đoán cậu ta là cháu của bạn ta rồi.

     Thấy cha vui vẻ, lòng cô gái cũng xốn xang và vội lánh vào phòng để che giấu tình cảm của mình đang thể hiện rõ trên khuôn mặt xinh đẹp. Dù không dám hỏi nhưng cô đã biết rõ người ấy, một chàng trai cao lớn, đẹp trai, nổi tiếng là thần đồng về học hành, mà cha cô thường khen ngợi mỗi khi nhắc tới trò này.

     Ngay sau đó, người học trò kia đến nhà cô gái gánh nước kia xin lỗi về sự lỗ mãng của mình và xin học. Rồi thầy Dương Đức Nhan ra bài để kiểm tra để biết trình độ của trò như thế nào mới nhận vào học. Thấy Văn Đạt thông minh, hiểu biết rộng, thầy ưng ý liền và từ ngày ấy chàng thanh niên ấp Trình Tuyền càng gắn bó với gia đình nhà thầy.

     Tình yêu giữa Nguyễn Văn Đạt tuổi Tân Hợi (1491) và ái nữ họ Dương tên Ý tuổi Kỷ Dậu (1489) này ngày càng bền chặt và được sự vun vén của hai bên gia đình, sau đó đã đơm hoa kết trái. Chiếc giếng nước hình bán nguyệt mà ái nữ họ Dương gánh nước cách nay trên năm trăm năm vẫn còn. Đây là nguồn cung cấp nước ngọt cho thôn dân nơi đây và cũng từ chiếc giếng nước này đã nảy sinh không biết bao lứa đôi nên vợ nên chồng. Chủ đề này, người đời sau thêu dệt thêm chuyện tình tại giếng nước làng Hạ cùng tổng Hạ Am, hay giếng nước ở Thăng Long còn ly kỳ hơn…

     Trong thời gian Tiến sỹ Dương Đức Nhan về trí sỹ, ngôi chùa làng ở ngoài cánh đồng bị hư hại do một cơn bão lớn trước đó, ông liền bàn với Hương lý Kỳ mục cùng các bậc cao niên trong làng di chuyển ngôi chùa về mảnh đất có vị trí phong thủy đắc địa hơn, rồi ngay sau đó ông đứng ra hưng công. Khi chùa hoàn thiện cùng với quy mô còn khá khiêm tốn và được ông đặt tên là Hoa Am (花庵), tức chùa Hoa, chữ Am (庵) ở trường hợp này là chùa nhỏ. Tới thời sau này, qua những lần trùng tu tiếp theo với quy mô hoành tráng hơn như cổng tam quan, hai hồ bán nguyệt, tháp, nhà tổ, giếng, chum hứng nước mưa…với diện tích hơn hai mẫu Bắc Bộ. Và tới lúc gọi địa danh bằng hai từ, thì nơi thờ Phật này được gọi là Hoa Am tự, tức chùa Hoa Am.

     Vào những năm đầu thế kỷ XVI đã có nhiều cư dân từ nơi khác về đây sinh sống, kinh doanh, đặc biệt là cách ấp Dương Xuyên không xa sau là tiểu cảng Cống Hiền, nơi giao thương hàng hóa tấp nập. Rồi chợ Dương Xuyên sau này trở thành một trung tâm thương mại lớn.

     Khi ấp này đủ cơ số dân trở thành xã (làng) và Hương lý Kỳ mục làng xin Tiến sỹ Dương Đức Nhan cho tên mới, ông vui vẻ nhận lời và cái tên Hà Dương được ra đời là như vậy. Từ Xuyên (川) theo nghĩa Hán là sông nhỏ và từ Hà (河) có nghĩa là sông lớn. Còn một truyền thuyết khác về sự hình thành cái tên Hà Dương là do xã Hà Dương, tổng Bút Sơn, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, thừa tuyên Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay) là quê gốc của ông tổ họ Dương nơi đây. Và cũng có thể vì lý do này, mà Tả Thị lang - Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan đã gửi chàng rể út của mình là Nguyễn Văn Đạt vào học thày Bảng nhãn Lương Đắc Bằng quê ở xã Hội Triều, tổng Bái Cầu cùng huyện Hoằng Hóa ngay gần đó.

     Vì Tả Thị lang - Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan có công lớn đối với quê hương, nên khi ông mất vào ngày 03 tháng 02 niên hiệu Thống Nguyên thứ 3, tức ngày 07 tháng 03 năm 1524, thọ 83 tuổi, được nhân dân địa phương đặc cách ký táng ông tại đầu hồi phía Đông chùa Hoa Am. Còn hình thức mai táng cũng rất đặc biệt là quan tài được đặt trong khối hộp đá có trục xoay được phần lắp trên, nhưng không thể mở ra được. Ngay sau đó đền thờ nhà khoa bảng Dương Đức Nhan được dựng bên cạnh nơi yên nghỉ của ông và sau này thôn dân nơi đây vinh danh ông là Phúc thần và nơi đây được gọi với cái tên tôn kính là mả Nghè (tức mộ Tiến sỹ Nho học). Vào thời hiện tại mả Nghè còn có tên gọi mới là mộ Tiến sỹ Dương Đức Nhan.

     Cuộc đời và sự nghiệp của Tả Thị lang - Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ chỗ nhận trò Văn Đạt về dạy dỗ với thời gian khá dài và ảnh hưởng tới cả nhân cách, rồi ông gả con gái rượu cho chàng nho sinh này, hay gửi Nguyễn Văn Đạt vào thầy Bảng nhãn Lương Đắc Bằng học tiếp.

     Mọi việc lớn nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm (húy là Văn Đạt) đều hỏi ý kiến ông từ lúc còn là học trò đến khi trưởng thành. Lúc Nguyễn Bỉnh Khiêm tuổi đôi mươi, ông đã nhiều lần giục con rể đi thi. Nhưng với tầm nhìn chiến lược của một vỹ nhân về nhà Lê sơ thời ấy đang thoái trào, rồi lúc Mạc Đăng Dung lên ngôi vua, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chưa xuất đầu lộ diện. Khi Mạc Đăng Doanh nối ngôi, lúc đó ông đã sang tuổi bốn mươi lăm, mới quyết định đi thi và khoa thi Đình năm Ất Mùi (1535) đỗ Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên).

     Trong thời gian Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan triều Mạc (1535 – 1542). Tục truyền, vào thời kỳ này, ông thường đi thăm thú vùng ngoại thành phía Bắc Thăng Long ven sông Thiên Đức, thấy đất đai nơi đây màu mỡ, phong cảnh hữu tình, cũng giống như ấp Trình Tuyền ở quê, ông liền làm ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô ven sông Đuống này do Phu nhân Từ Ý họ Dương trông nom chính để nghỉ ngơi cũng như tiếp bạn văn chương. Sau đó ông bà đưa nhiều con cháu và dân làng nội ngoại từ Trung Am và Hà Dương, huyện Vĩnh Lại lên đây sinh cơ lập nghiệp, giúp dân phát triển nông trang, ổn định cuộc sống. Theo gia phả họ Dương ở Hà Dương, thì bà Dương Thị Ý (Chính thất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) sinh được 5 người con cà trai lẫn gái, trong đó người con trai là Hàn Giang Cư sỹ, sau đổi họ Nguyễn thành họ Giang về Ninh Bình định cư. Và người con gái lớn lấy Phạm Dao, sau làm đại quan nhà Mạc được phong tước Phú Xuyên hầu.

     Sau hơn bảy năm làm quan ở kinh thành cho nhà Mạc, vì lý do tế nhị Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin từ quan về ở ẩn tại Trung Am mở trường dạy học và sáng tác. Ông là người sớm nhận ra vẻ đẹp và giá trị của vùng đất đai màu mỡ bờ Nam sông Đuống này và lấy tên Hoa Am (花庵) ở Hà Dương đặt cho ngôi làng ven sông Đuống vào khoảng thời gian mười tám Am tại lục tổng huyện Vĩnh Lại khu dưới Vĩnh Bảo ngày nay ra đời (1535 – 1585). Sau khi ông mất được thôn dân Hoa Am xây đền thờ và vinh danh ông là Phúc thần.

     Đầu thời Nguyễn (1802 – 1945), xã Hoa Am thuộc tổng Đặng Xá, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (từ năm Minh Mạng thứ 12 - 1831 là tỉnh Bắc Ninh). Khi vua Thiệu Trị lên ngôi (năm Tân Sửu, 1841), vì kỵ húy bà Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị, vợ vua Minh Mạng) nên tên Hoa Am (花庵) đổi thành Thanh Am (清庵) và làng này tên Nôm là Đuống, nay phần lớn là thực địa tổ Hai Mươi Tư, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Thôn dân nơi đây, từ đó tới nay vẫn coi mình là Am thứ Mười Chín của lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Bảo.

     Với việc thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng với hai vị tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là vợ chồng Phúc thần Đào Kỳ và Phương Dung, đình làng Thanh Am được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1990. Theo bản thần tích thần sắc số FQ 4018/IV.16 do Chánh Hương hội và Lý trưởng ký, đóng dấu do Viện Thông tin Khoa học Xã hội cung cấp, thì đến năm 1938 xã Thanh Am còn giữ được các sắc phong cho hai vị thần là Trình Đô Hộ Quốc Phu Cách Nhân Đức Tế Hòa Đại Vương và An Lạc Phương Dung Tĩnh Nhất Trinh Khiết Tuấn Trường Công Chúa thuộc các đời: Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), Cảnh Hưng nguyên niên (1740), Cảnh Hưng thứ 28 (1767), Cảnh Hưng thứ 44 (1783, hai đạo), Chiêu Thống nguyên niên (1787), Cảnh Thịnh nguyên niên (1793), Quang Trung thứ 5 (1792), Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 10 (1857), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924, 2 đạo)

.

Đền thờ Nhà khoa bảng Dương Đức Nhan tại Vĩnh Bảo mới được trùng tu lại năm 2023

.

     Cách đây không lâu chúng tôi đã tới đình Thanh Am, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội xem trực tiếp bảy sắc phong thần, mà địa phương còn lưu giữ thuộc các đời: Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), Cảnh Hưng nguyên niên (1740), Cảnh Hưng thứ 44 (1783, hai đạo), Chiêu Thống nguyên niên (1787), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924) và chưa thấy sắc phong nào cho Hùng Văn Bác Hợp Trình Quốc Công Tiên Sinh (tên thần của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)...

     Cuộc đời và sự nghiệp của Tả Thị lang - Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan là tấm gương sáng cho thế hệ chúng ta học tập, đặc biệt là người dân Vĩnh Bảo. Tám mươi ba năm cuộc đời, sáu mươi mốt năm cống hiến cho sự nghiệp xây dựng chế độ và bảo vệ non sông, người có ảnh hưởng lớn tới Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và sự hưng thịnh của miền đất quê hương. Khu di tích đền thờ Tả Thị lang(1) - Dương Xuyên hầu - Tiến sỹ Dương Đức Nhan và chùa Hoa Am ở xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo mới được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố tròn 10 năm (2013). Trong tôi bao cảm xúc trào dâng và bài thơ “Luật bắc cầu” được ra đời:

Hai nhà khoa bảng Hải Phòng

Được người Đà Nẵng hết lòng tôn vinh

Một ông Thầy(2) của Trạng Trình

Một ông Bảng nhãn(3) lênh đênh cuối trời

Còn bao gương mặt ngời ngời

Bụi thời gian phủ biết dời về đâu

Nếu không tôn kính xa sau

Ngày mai theo luật bắc cầu đó thôi?

__________

(1): Theo sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919, NXB Văn học 2006, thì TS. Dương Đức Nhan là Hữu Thị lang bộ Hình. Còn theo sách “Bạch Vân am cư sỹ Nguyễn Công Văn Đạt phả ký” năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) của Ôn Quận công Vũ Khâm Lân, thì TS. Dương Đức Nhan khi về trí sỹ được thăng tới chức Tả Thị lang.

(2): TS. Dương Đức Nhan là thầy dạy học đồng thời là nhạc phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông mất vào ngày 03/2 năm Thống Nguyên thứ 3 (tức 07/03/1524)

(3): Bảng nhãn Đào Công Chính được địa phương tôn vinh là “Đức thánh thuốc Nam, Hội Am Vĩnh Lại”.

NGỌC TÔ

.