/Củ khoai vùi,tình bạn hãy còn nguyên. Cắn một miếng, nụ cười còn bốc khói/ Thơ Thu Bồn.

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN NGỌ

Cách mạng tháng 8 năm 1945 vừa thành công, cả nước lại phải đứng trước muôn vàn khó khăn và thử thách.

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN NGỌ
                                   (Phần B)

2- SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
 

      Cách mạng tháng 8 năm 1945 vừa thành công, cả nước lại phải đứng trước muôn vàn khó khăn và thử thách. Ngày 23 tháng 09 năm 1945 tại miền Nam được quân Anh tiếp tay, thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Còn ở miền Bắc lấy danh nghĩa là quân đội đồng minh vào giải phóng quân Nhật, 20 vạn quân Tưởng kéo vào tiếp tay cho các thế lực phản động nổi lên nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ.

       Ở Vĩnh Bảo, chính quyền cách mạng vừa mới được thiết lập, đã phải đương đầu với biết bao hậu quả của xã hội cũ: Nạn đói, nạn dốt, lũ lụt, vỡ đê làng Sưa (Lô Đông – Vĩnh Long). Lợi dụng cơ hội này bọn phản động đội lốt tôn giáo, bọn lý dịch, địa chủ cường hào ngóc đầu dậy tuyên truyền phản động xuyên tạc về Đảng Cộng sản và tìm cách chui vào các cấp chính quyền đoàn thể để phá hoại. Từ ngày 23 tháng 8, vấn đề trật tự trị an còn rối như canh hẹ, đồng chí Nguyễn Văn Ngọ với trọng trách là Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện đã kịp thời tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành huyện bộ Việt Minh lâm thời mở rộng. Đồng chí đã trình bày chương trình hành động cụ thể: Phát huy thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhanh chóng tiến hành thiết lập chính quyền lâm thời ở tất cả các làng xã trong toàn huyện. Nhiệm vụ trước mắt tạm giao cho các lý dịch trong làng, những người có uy tín và có trình độ quản lý điều hành công việc nhằm ổn định tình hình chung, đặc biệt là khâu an ninh, đồng thời huy động nhân lực trị thủy đắp đê ở khu vực Lô Đông bị vỡ…

      Chủ tịch Nguyễn Văn Ngọ đã viết thư tay và cử Nguyễn Bác Ái đi gặp trực tiếp Lý Bá Sô, Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Tiên Lãng để xin hỗ trợ cọc tre về cứu đê. Chủ tịch Lý Bá Sô đã đồng ý ngay với phương án mà Chủ tịch Nguyễn Văn Ngọ yêu cầu. Rồi việc thực hiện chủ trương về giảm thuế, giảm tô, xóa bỏ tô phụ, cho tá điền hoãn nợ. Từ cuối năm 1945 xóa bỏ các thuế thân, hoãn nợ lần giữa nông dân và địa chủ, chia lại ruộng công, bước đầu giảm tô 25%. Những người từ 18 tuổi trở lên đều được cấp ruộng đất…

      Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Tổng đốc Vi Văn Định vẫn chưa chịu đầu hàng. Phái viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời đến gặp Vi Văn Định, ông ta không tiếp còn có ý định chống lại. Vào thời gian này, đồng chí Nguyễn Văn Ngọ được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi lên trực tiếp giao nhiệm vụ, với danh nghĩa là đặc phái viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời đi châu Lộc Bình, Lạng Sơn để đấu tranh thuyết phục Tổng đốc họ Vi đầu hàng, trở về với cách mạng.

       Vi Văn Định biết Ba Ngọ thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời thì tiếp, nhưng xin khất sau 72 giờ mới gặp. Thì ra trong ba ngày đó, Vi Văn Định cho dọn dẹp, trang trí lại nhà cửa để đón tiếp Nguyễn Văn Ngọ long trọng hơn. Nguyễn Văn Ngọ đã làm theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xử lý một cách thông minh, tài trí với thái độ khoan dung, lời lẽ thuyết phục và cuối cùng cảm hóa được Tổng đốc họ Vi. Rồi ông ta nói: “Tôi rất sợ ông đến để trả thù và bắt tôi… nhưng ông lại có cách cư xử nhân văn với tôi đến vậy, tôi xin tuân phục và xin ông cho tôi được về với Chính phủ Cách mạng…”.

      Nói đơn giản như vậy thôi, nhưng cũng phải mất gần một tuần lễ mới cảm hóa được con người này. Kết quả là cuộc gặp gỡ đầy thuyết phục của đồng chí Nguyễn Văn Ngọ đã giúp cho cựu Tổng đốc họ Vi tỉnh ngộ, không nghiêng ngả trước lời cám dỗ của thực dân Pháp về làm “Vua xứ tự trị Cao - Bắc - Lạng”, mà trở thành một thành viên tích cực trong phong trào đại đoàn kết dân tộc Việt Nam và có nhiều đóng góp cho cách mạng. Sau đó ông làm Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNamcho tới hết đời. Con trai ông là Vi Văn Kỳ làm cán bộ ở Bộ Nội vụ, con gái Vi Kim Ngọc là phu nhân nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, con gái Vi Kim Phú là vợ Giáo sư Hồ Đắc Di - Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, cháu nội Vi Thị Nguyệt Hồ là vợ Giáo sư Tôn Thất Tùng, cháu nội Vi Quang Đạo hiện làm Tổng Giám đốc Cổng thông tin điện tử Chính phủ, cháu rể là nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, cháu rể là GS.TS.NGND Nguyễn Lân Dũng …

      Để tăng cường lực lượng cán bộ lãnh đạo cho Thái Bình, từ tháng 01 năm 1946 đồng chí Nguyễn Văn Ngọ được Trung ương Đảng điều về làm Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh thay đồng chí Ngô Duy Cảo nhận công tác khác. Người dân Thái Bình vừa phải trải qua trận đói năm trước làm gần 30 vạn nhân khẩu bỏ mạng, rồi lại bị lũ lụt tàn phá khắp 12 phủ, huyện. Tỉnh ủy và Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh đã chỉ đạo sát sao để chấm dứt nạn đói và đắp lại đê Đìa ở Hưng Nhân, đê Mỹ Lộc ở Thư Trì bị vỡ. Kiện toàn lại bộ máy chính quyền. Đến ngày 10 tháng 4 năm 1946, sau khi ổn định nhân sự, Hội đồng nhân dân tỉnh họp phiên đầu tiên, quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Trong đó có quyết định bỏ cấp phủ, cấp tổng, sắp xếp đơn vị hành chính theo tỉnh, huyện, xã, thôn. Tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân xã khóa và thành lập Ủy ban Hành chính xã thay cho Ủy ban Cách mạng lâm thời. Kiện toàn lại Ủy ban Hành chính cấp huyện, mặc dù ở một số cơ sở vẫn còn lại những phần tử xấu, tìm cách lọt vào chính quyền. Rồi thông qua các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, chính quyền các cấp đã lựa chọn cán bộ cốt cán, có uy tín, đáp ứng tích cực yêu cầu nhiệm vụ và củng cố chính quyền cách mạng.

     Đặc biệt từ khi đồng chí Nguyễn Văn Ngọ về nhận công tác trong vòng hơn 4 tháng thì Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với phái đoàn Chính phủ đã hai lần về thăm Thái Bình. Lần thứ nhất vào ngày 10 tháng 01 năm 1946. Sau khi đi xem quãng Đê Đìa (Hưng Nhân) và đê Mỹ Lộ (Thư Trì) bị vỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thị xã Thái Bình lúc 15 giờ cùng ngày gặp gỡ cán bộ và nhân dân tại trụ sở Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh. Các đồng chí Ngô Duy Cảo - Chủ tịch Ủy ban, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Văn Phiếm, Bùi Đăng Chi, Đỗ Thị Hạnh cũng có mặt. Được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh về, nhân dân thị xã kéo đến khá đông đứng chật cứng cả trong sân, ngoài vườn và cổng Tòa Đại sứ. Người dành 30 phút nói chuyện với nhân dân. Đại ý Người nói nước ta đã độc lập, mọi người dân làm chủ đất nước, toàn dân phải tích cực tham gia đắp đê chống lụt, chống nạn đói.

      Còn lần thứ hai vào ngày 28 tháng 4 năm 1946, Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính tỉnh quyết định tổ chức Lễ mít tinh lớn, mừng công khánh thành đê Đìa - Hưng Nhân và đê Mỹ Lộc - Thư Trì, mời Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ về dự. Vào lúc 9 giờ 30 phút, lễ mít tinh bắt đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ông Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Xiển… trong đoàn đại biểu Chính phủ bước lên lễ đài. Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Ngọ - Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh đọc báo cáo tóm tắt về thành tích đắp đê chống lụt bão và chống đói. Tiếp theo đó Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu nói chuyện với nhân dân. Người khen ngợi thành tích đắp đê của Thái Bình, hoan nghênh tinh thần đoàn kết trong lao động, sản xuất cứu đói. Người kêu gọi phải ra sức diệt ba kẻ thù trước mắt là: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm… Buổi chiều Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Chính phủ đến Hưng Nhân để dự Lễ mít tinh khánh thành đoạn đê Đìa, nay thuộc xã Hồng An, huyện Hưng Hà, Thái Bình. Nhân dân huyện Tiên Hưng và Hưng Hà đứng chật hai bên đường 39 và trên đê sông Luộc đón Người.
.


Hồ Chủ tịch và đoàn đại biểu Chính phủ CM lâm thời tới dự lễ khánh thành đê Hưng Nhân và Mỹ Lộc, Thái Bình ngày 28.4.1946 (đ/c Nguyễn Văn Ngọ, Chủ tịch UBHC tỉnh Thái Bình người mặc com lê ngoài cùng bên phải, cụ Huỳnh cầm ba toong, đầu đội khăn xếp)
     Chú thích về bức ảnh: Phải rất vất vả, khó khăn lắm Ngọc Tô mới có được bức ảnh với hơn 70 tuổi đời này. Khi có ảnh rồi thì xác định được cụ Huỳnh ở đâu? Cụ Xiển ở chỗ nào? Cụ Tâm ở đâu? Cụ Ngọ ở chỗ nào? Các cháu ruột của cụ Ngọ cũng không dám khảng đinh, vì khi cụ mất các anh chị đó còn quá nhỏ. Nhưng đến giờ phút này tôi có đủ bằng chứng khảng đinh chắc chắn 100% với mọi người rằng: Người mặc com lê ở bìa cùng mép bên phải là ông Nguyễn Văn Ngọ. 

        Rồi các phong trào khác tại địa phương ở Thái Bình phát triển khá đồng đều, đời sống của nhân dân dần dần được ổn định, các tệ nạn, hủ tục cũ dần được loại bỏ, đời sống tinh thần ở các làng xã có những bước tiến bộ đáng kể. Lực lượng võ trang tại địa phương được củng cố và phát triển. Chỉ qua vài tháng đầu năm 1946, tại các thôn xã đều xây dựng được từ một tiểu đội đến một trung đội du kích với nhiều tên khác nhau như: Bảo an Việt Minh, Việt Minh danh dự, Thanh niên trung kiên, Trật tự viên…Việc tập luyện quân sự đã trở thành phong trào rộng lớn cuốn hút mọi lứa tuổi, giới tính và lương giáo...

     Trong sinh hoạt đời thường, đồng chí Nguyễn Văn Ngọ lấy phê bình và tự phê bình mình là vũ khí sắc bén để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, giúp bản thân tiến bộ không ngừng. Phần hồi ký của mình, đồng chí có ghi: “...Đầu năm 1946 lúc ấy Thái Bình còn phải tự túc lương thực nuôi quân đội, mà ngân khố thì cạn kiệt. Tôi xin cấp trên cho mở cuộc sổ số để lấy tiền sung quỹ, mà số độc đắc là một chiếc ô tô con. Khi lấy xe về, tôi dùng phương tiện này xuống huyện vừa để đi thử và vừa để cổ động bà con mua sổ số. Khi đến Ủy ban huyện, xe để ở ngoài cổng. Cậu cận vệ của tôi vì sỹ diện hão với gái đã tự động ngồi vào ôm vô lăng và cho nổ máy. Vì hắn chưa biết lái, nên chiếc xe đâm thẳng vào tường bị bẹp dúm. Lúc ấy tôi không biết cách nào để nói với bà con? Lấy tiền đâu mà đền cho ban tổ chức? Tôi liền gọi cậu cận vệ vào nhà và trong đầu tôi đã nghĩ: Có bỏ tù hắn cũng vô ích. Đang cơn giận giữ, tôi cho hắn mấy bạt tai để sau hắn chừa. Không ngờ sự việc vừa mới xảy ra thì mọi người đã biết hết. Tôi nhận thấy mình đã sai khi đánh cận vệ. Bổn phận người cách mạng là phải kiên trì giải thích, giáo dục cho người mắc sai lầm hiểu ra vấn đề. Đừng bao giờ dùng bạo lực với người sai phạm, làm ảnh hưởng xấu tới dân vì chế độ dân chủ thì  mọi người đều được bình đẳng như nhau. Cũng đừng bao giờ lấy quyền của kẻ trên mà áp đặt kẻ dưới, thật thiếu dân chủ...”.

    Dù đã chuyển sang Thái Bình công tác, nhưng đồng chí Nguyễn Văn Ngọ vẫn hết lòng vì phong trào cách mạng ở quê hương. Trong hồi ký của mình đồng chí có ghi: “Đến cuối năm 1946 địch sắp đánh Hải Phòng. Được anh em Hải Phòng – Kiến An cho biết: Bọn thổ phỉ Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch vào khá đông, chúng cấu kết với Quốc dân Đảng ở ViệtNam, thừa cơ Pháp đánh ta là chúng nổi dậy. Một hôm đồng chí Bí thư Huyện ủy Vĩnh Bảo sang Thái Bình nói với chúng tôi: Bọn Việt Quốc ở Vĩnh Bảo đứng đầu là tên Khang, thường xuyên cấu kết với bọn Việt Quốc ở Hải Phòng, chúng chuẩn bị cả khí giới, rồi cờ làm ám hiệu cho máy bay địch oanh tạc. Khi địch tấn công nó thường qua Thái Bình để liên lạc và cấu kết với bọn phản động địa phương. Vì chúng tôi (lãnh đạo Vĩnh Bảo) ở xa Hải Dương và Tỉnh ủy Hải Dương hiện đang có rất nhiều việc cần phải làm. Chúng tôi đã báo cáo nhiều lần nhưng Tỉnh ủy Hải Dương vẫn chưa có thái độ rõ rệt. Tình hình lúc này khá căng thẳng. Chúng tôi sang nói với các anh, làm cách nào để giúp đỡ giải quyết có hiệu quả nhất. Lần thứ nhất chúng tôi (lãnh đạo Thái Bình) bảo các đồng chí cứ về điều tra lại cẩn thận và lên Hải Dương báo cáo với Tỉnh ủy. Về được mấy hôm thì đồng chí ấy lại quay lại và nói với chúng tôi đã xem xét kỹ càng, nhưng bọn Việt Quốc ở Vĩnh Bảo vẫn thường xuyên đi Hải Phòng. Tình hình lúc này “căng như dây đàn”, khi Pháp bắt đầu tấn công Hải Phòng, nếu không có cách gì trừ khử, thì bọn phản động này sẽ cấu kết với thực dân Pháp quay lại phá ta. Huyện ủy đã họp và nhất trí cử tôi sang trực tiếp đề nghị với các anh để xin trợ giúp. Còn Hải Dương thì xa, mà gửi thông tin mãi vẫn chưa có hồi âm. Tôi đem vấn đề này ra bàn với Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình, mọi thành viên đều nhất trí, nếu quả thực như vậy thì tìm cách giúp Vĩnh Bảo và báo cáo cho Hải Dương sau. Tôi liền giao nhiệm vụ này cho anh em Phụ Dực vì là huyện sát nách với Vĩnh Bảo để hai bên bàn bạc thực thi nhiệm vụ. Chỉ mấy hôm sau, tên Khang đã bị bắt và đưa về Phụ Dực xử lý. Sau đó Tỉnh ủy Hải Dương có chất vấn tôi về chuyện này, tôi cũng trình bày như trên và sự kết hợp của hai địa phương là cần thiết”...

   Từ ngày 03 tháng 02 đến ngày 6 tháng 02 năm 1948 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ III được tổ chức tại thôn Chiếp Đoài, xã Hồng Lĩnh, huyện Duyên Hà (nay thuộc huyện Hưng Hà) với 115 đại biểu chính thức, đại diện cho trên 2.300 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đại hội đi sâu thảo luận phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 1948 và nhất trí thông qua những nội dung quan trọng: Đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển nông nghiệp. Tiếp tục củng cố và xây dựng các làng kháng chiến. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Xây dựng các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Liên Việt và Việt Minh ngày càng vững mạnh, củng cố khối đoàn kết toàn dân. Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đối với con em nhân dân lao động. Phát triển Đảng viên mới... Đại hội đã bầu Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ khóa mới gồm 12 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Toàn Thư được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy. Đến tháng 4 năm 1948 đồng chí Thư chuyển về Trung ương và đồng chí Nguyễn Văn Ngọ đảm nhận chức vụ này, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh.

Đến tháng 7 năm 1949 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ IV diễn ra tại đình làng Tuấn Nghĩa, xã Quang Khải, huyện Thái Ninh (nay là xã Thái Học, huyện Thái Thụy). Về dự đại hội có trên 200 đại biểu đại diện cho trên 24.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trong 5 ngày làm việc, Đại hội đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng, nhất là về công tác chuẩn bị kháng chiến, chiến đấu trực tiếp với thực dân Pháp và về công tác xây dựng Đảng. Đại hội đã nhất trí bầu Ban Chấp hành khóa mới, gồm 19 ủy viên chính thức, một ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Ngọ, Khu ủy viên làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh.

    Theo lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình thì từ tháng 04 năm 1948 đến tháng 04 năm 1951 đồng chí Nguyễn Văn Ngọ là Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh. Suốt chiều dài lịch sử của Đảng bộ tỉnh Thái bình từ tháng 6 năm 1929 tới nay, chưa có một đồng chí nào vừa giữ chức Bí thư lại kiêm Chủ tịch như đồng chí Nguyễn Văn Ngọ. Có thể do cuộc chiến tranh chống Pháp của quân và dân ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất, cần phải tập chung lãnh đạo về một mối. Cũng có thể chưa người nào có đủ khả năng thay thế được đồng chí Ngọ lúc bấy giờ, nên Trung ương để đồng chí đồng thời giữ hai chức vụ.

Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng khốc liệt, quân đội viễn chinh Pháp đã chiếm đóng hầu hết các địa bàn xung yếu ở Thái Bình, mọi liên lạc bị gián đoạn. Để triển khai quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Nghị quyết của Liên khu ủy Khu III và kiện toàn lại Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, Tỉnh ủy Thái Bình đã quyết định triệu tập Hội nghị Cán bộ toàn tỉnh vào ngày 11 tháng 4 năm 1951 tại thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyện Duyên Hà (trong khu căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng, vùng căn cứ rộng lớn của tỉnh và một số tỉnh lân cận thuộc Liên khu III). Hội nghị bầu ra Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ gồm 23 đồng chí. Đồng chí Trần Bình (tức Lê Tự) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Đồng chí Nguyễn Văn Ngọ được Trung ương điều động về làm ở Liên khu III. Năm 1953 giữ chức Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu III. Năm 1954, đi công tác và hy sinh ngày 04 tháng 06 năm 1954 tại Trung Quốc. Thi hài đồng chí Nguyễn Văn Ngọ được an táng tại Nghĩa trang Liệt sỹ Cách mạng Bắc Kinh với tấm bia đá còn khắc đậm bằng hai thứ tiếng Trung Việt: Mộ Liệt sỹ Nguyễn Văn Ngọ. Sinh 06 - 1906. Hy sinh 4 – 6 - 1954. Kể từ ngày đồng chí Nguyễn Văn Ngọ hy sinh, hàng năm cứ vào ngày giỗ, các ngày lễ lớn thì Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh đều cử đoàn đến thắp hương, kính viếng hương hồn đồng chí. Ngoài ra còn những Đoàn Ngoại giao, Đoàn Cấp cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, khách du lịch Việt Nam tới Bắc Kinh cũng như bạn bè quốc tế yêu quý Việt Nam cũng đến đây dâng hương, đặt hoa thăm viếng Liệt sỹ Nguyễn Văn Ngọ.


Bia mộ Liệt sỹ Nguyễn Văn Ngọ tại Nghĩa trang Liệt sỹ cách mạng Bắc Kinh - Trung Quốc (từ 1954 đến 1994) Ảnh do Đại sứ quán VN tại TQ cung cấp 

       Ông Nguyễn Văn Kết là người tháp tùng nhận hài cốt đồng chí Nguyễn Văn Ngọ đã chứng kiến toàn bộ sự việc: Mộ chí của ông Nguyễn Văn Ngọ nằm ở Nghĩa trang Cách mạng Bát Bảo Sơn. Xưa kia đây là nơi chôn cất, thờ phụng các thái giám và cung phi của Tử Cấm Thành thời nhà Minh. Nơi có không ít hài cốt của gần 17.000 thái giám gốc Việt nổi tiếng thời nhà Hồ bị nhà Minh bắt sang làm nô dịch. Đến tháng 8 năm 1951 chính quyền thành phố Bắc Kinh thành lập nơi đây thành Nghĩa trang Liệt sỹ Cách mạng, rồi sau này đổi thành Nghĩa trang Cách mạng Bát Bảo Sơn - Bắc Kinh (gọi tắt là Nghĩa trang Bát Bảo Sơn), nằm ở phía tây thành phố được bao phủ bởi rừng thông xanh mướt, mang không khí trầm mặc nghiêm trang và cách nội đô khoảng nửa tiếng đi xe.

    Bát Bảo Sơn được chia thành 3 khu vực an táng dựa theo cấp bậc, chức vụ của người được an táng. Khu vực I dành cho các sỹ quan cấp sư đoàn, nên các ngôi mộ kích thước không vượt quá 4 mét x 2 mét. Khu vực II là nơi an táng các sỹ quan cấp quân đoàn, kích thước tối đa của các ngôi mộ là 7mét x 7mét. Khu vực III dành cho các lãnh đạo cấp cao của Giải phóng quân hoặc những người có công trạng đặc biệt với cách mạng và đồng chí Nguyễn Văn Ngọ được an táng ở Khu vực II tại một khu đất biệt lập. Quan tài bằng cả cây gỗ lớn nguyên khối được khoét rỗng và lăng mộ xây bằng gạch theo kiểu cuốn vòm…

     Sau 40 năm yên nghỉ tại quê người, được sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt là đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, vào ngày 24 tháng 4 năm 1994 phần hài cốt của đồng chí Nguyễn Văn Ngọ được đưa về nước, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

“Cuối đời nằm chốn tha phương

Bốn mươi năm ấy tìm đường về quê

Câu thơ lắng đượm cõi mê

Không gian chìm lặng bốn bề mông lung

Hạ về mảnh đất anh hùng

Ông về sống mãi giữa lòng nhân dân”.  (Thi An)
.

Nơi an nghỉ của đ/c Nguyễn Văn Ngọ tại Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội 

     Trong hồi ký viết tay cách đây đã 70 năm, nhà cách mạng Nguyễn Văn Ngọ đã nhận xét về mình bằng cảm xúc nội tâm với những con chữ dung dị, tự nhiên, nhưng đầy tính nhân văn. Trong đó ông nêu một vài ưu điểm trong quá trình hoạt động cách mạng của mình. Lấy ba điều sau làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động:

“1- Từ khi gia nhập Đảng, tôi hiểu rằng sự nghiệp cách mạng thật gian nan nhưng cũng thật vĩ đại. Cho nên làm được đến đâu thì cố gắng đến đó. Cớ sao giữ được trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, không phản bội Đảng, nên khi bị địch bắt, bị tra tấn cực hình, tôi vẫn cố chịu, không hé răng nửa lời. Khi bị dụ dỗ làm việc cho chúng, chúng không bắt đi Căng nữa, nhưng tôi vẫn kiên định đi theo con đường cách mạng đã chọn.

2- Trước những hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn như trong thời kỳ hoạt động bí mật, đặc biệt là lúc mới ra tù, phải cố gắng chịu đựng, khắc phục. Không làm những việc gì làm tổn hại tới thanh danh, uy tín của Đảng và lòng tin của nhân dân. Ngay từ ngày khởi nghĩa, rồi lúc Đảng có chính quyền trong tay thì tôi cũng luôn nghĩ đến những ngày đen tối nhất mà làm việc không một chút vụ lợi, so sánh thiệt hơn.

3- Mục tiêu của sự nghiệp cách mạng từ khi giành được chính quyền là đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân, cố gắng chăm lo cho đời sống của họ. Luôn thấm nhuần lời dạy của các bậc tiền bối: Đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết”.

Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của đồng chí Nguyễn Văn Ngọ đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Đồng chí là một tấm gương của người chiến sỹ cộng sản kiên trung, chí công vô tư, hy sinh trọn đời vì nước vì dân. Từ một sinh viên yêu nước, đi theo con đường cách mạng và trở thành Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh ở tuổi 40 ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công. Trong quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí đã vượt qua mọi thử thách chông gai, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cộng sản cao đẹp, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó để lại cho thế hệ chúng ta bài học vô cùng quý giá về lý tưởng cộng sản, về tinh thần học tập, luyện rèn, phấn đấu không ngừng, về ý chí chiến đấu đến hơi thở cuối cùng của người chiến sỹ cách mạng.
Ngọc Tô (Biên soạn)

(Còn nữa)