/Củ khoai vùi,tình bạn hãy còn nguyên. Cắn một miếng, nụ cười còn bốc khói/ Thơ Thu Bồn.

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

Barnaul - Dấu ấn đời người

Ngoài trời lạnh cắt thịt cắt da và trong tâm hồn tôi cũng không kém giá băng vì nỗi cô đơn, vắng người thân, gửi gắm cuộc đời trôi dạt về với mảnh đất Altai.

Dấu ấn đời người
(Bút ký của Thi An)
 

      Người phụ trách ký túc xá là Doia Anatoevna, một phụ nữ Nga, dáng đậm, đôi mắt sáng, nhanh nhẹn và bộc trực. Khi vừa bước chân tới đây, chúng tôi được mời vào hội trường ngồi nghỉ tạm. Ngay sau đó Doia và mấy cán bộ hành chính ký túc xá dẫn chúng tôi lên tầng 3 nhận phòng. Tôi được tự nhận phòng 51, diện tích khoảng 16 mét vuông, đối diện khu nhà rửa mặt. Vì hay viết lách, sợ bị ồn, sau phút suy tính, tôi quyết định đổi sang phòng 54. Diện tích hẹp hơn, phòng nằm cuối hành lang, ít người qua lại. Qua cửa sổ đầu nhà là thấy từng chùm lá sồi đung đưa theo gió. Liền kề là ký túc xá nữ 4 tầng người Nga. Trong ký túc xá chúng tôi phòng nào cũng có tủ lạnh, ti vi đen trắng, giường đơn lò xo, bàn học, tủ cá nhân, tủ đứng bằng gỗ ép mùn cưa. Sàn nhà được ghép bằng gỗ thông, sơn màu chống rỉ... So với cuộc sống bây giờ thì còn quá sơ sài, nhưng với Việt Nam thời ấy đó cũng là điều hạnh phúc lắm rồi. Căn phòng 54 đã gắn bó với tôi biết bao kỷ niệm, như dấu ấn đời người trên mảnh đất Xibia.

Trời về khuya mọi người phòng nào về phòng ấy. Không khí tĩnh lặng bao trùm lên tất cả. Tiếng gió ngoài cửa sổ rì rầm như giọng hát trầm tư từ xa đưa lại. Một mình ngả lưng trên chiếc giường đơn, không sao nhắm mắt được. “Trống vắng ùa theo từng mạch máu trong người”. Trong tâm trí tôi lúc nào cũng chờn vờn cậu con trai mới 8 tháng tuổi. Không biết ở nhà hai mẹ con xoay sở ra sao? Tôi lo cho bố mẹ già và đàn em thơ dại, không biết cuộc sống thế nào? Những ý nghĩ mông lung đó luôn tái hiện. Là người từng xa nhà nhiều lần, tôi luôn chuẩn bị cho mình hành trang về cuộc sống tự lập, từ việc nấu nướng, chợ búa, khâu vá đến lau dọn nhà cửa.

Khu học tập và làm việc của anh em chúng tôi cách ký túc xá khoảng hơn cây số, cuốc bộ mất 15 phút. Đoàn được chia làm hai đội. Đội tôi là đội 2. Chúng tôi là đơn vị nam giới đầu tiên đến Barnaul, nên mọi thứ được bạn ưu ái. Còn người dân xung quanh thì chất phác, dễ gần. Họ cũng chưa hiểu nhiều về đất nước và con người Việt Nam. Khi đến lớp học các thành viên được giảng viên người Nga giới thiệu sơ lược về mảnh đất có khí hậu lục địa và con người nơi đây.

Altai, vùng đất nằm ở miền Tây Xibia, diện tích gần bằng Việt Nam với dân số gần 3 triệu người (Năm 1990 tỉnh tự trị Gorno - Altai tách ra thành Cộng hòa Altai, nên diện tích và dân số của vùng Altai từ đó giảm đi khoảng một phần ba). Nhìn trên bản đồ nước Nga, phía tây nam vùng Altai giáp với miền Đông Kazakhstan, phía đông bắc giáp với thành phố Novosibirsk và tỉnh Kemerovo, phía đông nam giáp với Cộng hòa Altai. Vùng đất này được thành lập ngày 28 tháng 09 năm 1937, gồm mười thành phố lớn từ 15.000 dân đến trên 600.000 dân.

Còn Barnaul, thủ phủ vùng Altai, diện tích 321 ki-lô-mét vuông, dân số trên 600.000 người, là thành phố xếp thứ 21 của Nga. Được thành lập vào những năm 1730 và chính thức trở thành trung tâm quyền lực vùng Altai từ năm 1937. Thành phố Barnaul có năm quận: Đường Sắt, Công Nghiệp Hóa, Lê Nin, Tháng Mười và Trung Tâm. Với hai con sông lớn chảy qua đó là sông Obi và Barnaulka. Thành phố này còn là trung tâm lớn về công nghiệp, văn hóa, giáo dục của vùng Xibia. Nơi đây có 9 trường đại học, 5 rạp hát, nhiều bảo tàng, đài kỷ niệm và các công trình kiến trúc tiêu biểu từ thế kỷ 18 đến nay. Tại đây có hơn 100 dân tộc khác nhau sinh sống, người Nga chiếm 90%, người Đức gần 5%, Ucraina gần 3% còn lại là các dân tộc khác.

Về khoa học kỹ thuật, Barnaul có mười một viện thiết kế khai khoáng và phân hiệu của chúng, 13 viện nghiên cứu khoa học. Trong đó tiêu biểu là viện trồng trọt Xibia mang tên M.A. Lixavenco, viện nghiên cứu nước và các vấn đề sinh học, viện công nghệ chế tạo máy, viện nông nghiệp... Tại các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu khoa học có gần 3700 chuyên gia, trong đó có 250 tiến sỹ khoa học, 1500 tiến sỹ. Trường đại học bách khoa (nay là Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Nhà nước Altai) đã có nhiều đề tài liên kết các cơ sở sản xuất khoa học kỹ thuật. Rồi trạm thiên văn Barnaul, một trong những trung tâm thiên văn lớn của nước Nga...

Trời đang vào những ngày đẹp nhất của cả năm. Muôn bông tơ của hàng cổ thụ đang lơ lửng chao lượn khắp không gian như cố níu chút hơi thở thời gian, nhiều lúc gặp người đi đường là chúng quyện lấy ngay. Tôi tĩnh tâm lắng nghe những âm thanh của đất trời, bao ký ức từ xa xưa vọng về. Cái nắng vàng lịm như mật ong hòa vào khung cảnh tĩnh mịch nơi đây, tạo nên một nét riêng của mùa hè Xibia mà không nơi nào có được.

       Bước chân ra khỏi ký túc xá là tầng tầng lớp lớp muỗi bao vây. Muỗi ở khắp chốn mọi nơi, nên lúc nào trên đường người cuốc bộ tay cũng cầm cành lá xua ngang xua dọc. Khi đi bộ anh em chúng tôi đùa bảo nhau, Liên Xô khoa học hiện đại thế mà còn để muỗi phát triển như vậy, nên Việt Nam chịu là phải. Càng lên cao, áp suất không khí càng loãng, muỗi càng ít. Các căn hộ, đều được bọc lưới cánh cửa sổ nhỏ như chạn bát Việt Nam. Trước lúc đi ngủ xua hết muỗi ra và đóng cửa lại, chỉ mở một cửa sổ con có lưới. Ở mãi rồi cũng quen. Nếu có bị đốt một vài nốt thì coi như làm từ thiện cho muỗi bữa cải thiện. Nhiều lúc tôi nói đùa với bà trực ký túc xá: Quê tôi người ta chế tạo một loại biệt dược “Trường sinh bất lão” từ muỗi. Có lẽ, Altai sẽ là vùng cung cấp nguyên liệu vô tận. Nay mai tôi bàn với chính quyền thành phố lập công ty thu gom muỗi. Lúc ấy muỗi lại có giá. Thế là mọi người lại phá lên cười.

Ở được vài bữa, ông Rưbin, cán bộ phòng đào tạo gọi tôi và đơn vị trưởng Bùi Hồng Ngôn lên nói: “Hiện có công văn của Đại sứ quán Việt Nam mời họp, chúng tôi đã chuẩn bị vé, ba hôm nữa các anh lên đường?”

Hai anh em mừng mừng tủi tủi. Và, ngày lên đường đã đến. Từ Barnaul lên Mát (chữ gọi tắt của Matxcơva) rất xa, đi máy bay phải mất gần bốn giờ đồng hồ. Rồi từ sân bay Mát vào thành phố cũng xa mấy chục cây số, bằng từ Hà Nội đến Hải Dương. Thời đó ít xe, không bị tắc đường. Chứ bây giờ, nhiều lúc đi từ sân bay vào nội thành cũng mất kha khá thời gian. Ngôn học phổ thông trước tôi 2 lớp, quê Quảng Ngãi, cựu sinh viên Đại học Kỹ thuật Minsk. Ngôn trước là học sinh miền Nam học phổ thông ở khu cầu Rào, Hải Phòng. Dáng người đậm, chắc nịch. Khuôn mặt vẻ từng trải, giọng đặc sệt miền Trung. Các bạn trẻ, thậm chí có nhiều em kém Ngôn 9, 10 tuổi nhưng cũng gọi bá xưng con. Ngôn chỉ toét miệng cười khì. Tôi biết Ngôn từ khi tập trung tại sân bay Nội Bài. Qua tiếp xúc thấy con người này chân chất, chơi được. Khi đáp máy bay đến Mát, tôi và Ngôn bắt taxi theo địa chỉ giấy triệu tập tại khách sạn khu vực chân tháp truyền hình Ostankino. Hai anh em được bố trí ở chung một phòng. Vì vậy, càng ngày chúng tôi càng hiểu nhau hơn. Sáng hôm sau ra hội trường họp gặp lại nhiều bạn bè anh em xưa, đó là điều vui nhất. Cuộc họp gồm các bộ tứ lãnh đạo (Đơn vị trưởng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn thanh niên) của các đơn vị, thành phố có công dân Việt Nam sinh sống trên toàn Liên bang. Đơn vị tôi mới được thành lập. Khi còn ở Việt Nam, trước lúc khởi hành, bộ cử tạm kỹ sư Bùi Hồng Ngôn làm Đơn vị trưởng. Sang đây tôi được tiến cử làm Bí thư Đoàn thanh niên.

Cuộc họp này nhằm phổ biến nghị quyết Trung ương Đảng về công tác đào tạo, phát triển kinh tế đối ngoại và tổng kết công tác người Việt tại Liên Xô 3 năm qua. Việc họp hành rất nghiêm túc, các cuộc hội thảo buổi chiều khá sôi nổi, ai cũng muốn khoe hết năng lực phẩm chất của bản thân. Cuộc họp ngắn ngủi có 3 ngày, nhưng rất bổ ích và thú vị. Sang ngày thứ 4 hai anh em được tự do. Ăn sáng xong, tôi và Ngôn bắt xe đến địa chỉ cửa hàng mà chú lái xe sứ quán cho, mua mấy nồi hầm, bàn là, mấy lọ shampoo... về làm quà. Thời đó hàng hóa ở Nga còn khan hiếm, người dân không biết hàng ngoại là gì. Đồ gì của nước ngoài mua cũng phải xếp hàng dài dằng dặc, có khi phải đến ngày hôm sau mới đến lượt. Chuyến đi, phía bạn mua cả vé khứ hồi cho hai anh em, nên chúng tôi không có nhiều thời gian ở Mát để thăm các danh lam thắng cảnh. Vội vội vàng vàng mua được mấy thứ hàng vặt, bắt xe ra ga tàu hỏa gửi, rồi nhanh chóng ra máy bay cho kịp giờ. Thời đó cuộc sống còn khó khăn, chúng tôi đang ở tuổi sung sức nhất, chẳng ai nghĩ tới tham quan, du lịch nhiều, mà sổng ra là đi săn hàng gửi về nước.

      Ở ký túc xá chúng tôi toàn đực rựa, nhà ăn công cộng thì xa, nên anh em tự túc nấu nướng lấy. Mọi công việc đầu tiên chưa biết, nhưng làm mãi rồi cũng quen. Từ chỗ ở ra chợ “Có mái che” mua thực phẩm, mất gần nửa tiếng đi bộ. Chợ ở Xibia không dồi dào thực phẩm như ở Trung Á hay Mát. Chủ yếu chỉ có thịt, khoai tây, hành củ và cà rốt. Về mùa hè thì mới có cá tươi, bắp cải, dưa chuột hay trái cây. Một tuần đi chợ một lần, không thì cứ bánh mỳ với đồ hộp cho gọn. Ngôn học đâu được cách kho cá rất ngon, tôi cũng học theo. Mua cá thu đông lạnh, giá 88 kopek một ki-lô-gam về làm sạch cắt khúc, thịt ba chỉ một cân, dưa cải chua một bát, gia vị một ít. Cứ lần rải dưa cải, lại đến lần cá rồi lần thịt, gia vị, lần lượt cho vào nồi áp suất, đổ nước vừa phải, kho cạn là được. Nồi cá kho nhừ như vậy ăn mấy ngày chẳng phải đi chợ nữa, sướng thật.

Ngoài những giờ đến lớp cùng anh em, chiều chúng tôi đi đá bóng, đánh bóng bàn hay du ngoạn ngoài công viên. Mùa hè ở đây gần nửa đêm, mặt trời vẫn chưa đi ngủ. Nhiều hôm về muộn, tôi vẫn thấy một số bạn trẻ vừa mới đi đá bóng về. Ở đội bên, chủ yếu anh em người Hà Nội. Có Phạm Lê Ba, cựu sinh viên Đại học Tổng hợp Kharcov - Ukraina và Nguyễn Hải Long, người trẻ hơn, dáng hơi điệu bộ, học đại học trong nước, tiếng Nga chưa được thạo lắm. Với tiêu chí, những gì tốt của mọi người thì gạn lấy mà chơi, do vậy anh em chúng tôi tìm được tiếng nói chung tương đối dễ.

       Thời gian trôi quá nhanh, chưa kịp hưởng những ngày hè thơ mộng miền Tây Xibia, cái lạnh đã tràn về. “Mùa thu tình tứ đến tự bao giờ”. Là người mới đến lần đầu vùng đất này, nên cảm nhận của tôi cũng khác so với mùa thu của các vùng đất khác. Màu vàng cỏ cây hoa lá ở đây ấm áp như màu nắng, không cháy hết mình như màu lá phong phương bắc, không có những màu lốm đốm vàng khô như vùng Trung Á. Mùa thu nước Nga bước vào mùa lá rụng. “Những khu vườn như lửa cháy sáng ngời. Vòm lá sẫm, ánh vầng lên rực rỡ... (Thơ Olga Berggolts)

Mấy hôm nay trời trở lạnh, căn bệnh quái ác khi còn trong chiến tranh lại hành hạ, tôi đành vào một bệnh viện cách nơi chúng tôi ở không xa. Ngày ấy mọi người đi khám chữa bệnh, từ dân thường đến cán bộ cấp cao đều do Nhà nước bao cấp. Tôi được chuyển vào khoa nội vì bệnh loét dạ dày và sốt rét. Riêng bệnh sốt rét thì các bác sỹ Nga nhiều khi bó tay, vì họ chưa từng gặp căn bệnh này bao giờ. Còn bệnh về dạ dày thì họ có nhiều phương tiện kỹ thuật tương đối tiên tiến để chuẩn đoán, điều trị. Khẩu phần ăn của người Nga là bánh mì và súp. Nhưng họ vẫn mắc bệnh về dạ dày, có lẽ do uống quá nhiều bia rượu, đặc biệt là nam giới. Do vậy tuổi thọ trung bình của đàn ông Nga kém hơn nữ giới trên 10 năm. Phòng tôi nằm điều trị hầu hết là bệnh nhân mắc bệnh dạ dày. Khi vào đây, mấy ngày đầu thì toàn chiếu chụp, xét nghiệm là chính. Không biết cách chẩn đoán bệnh ở Nga như thế nào, nhưng vào bệnh viện bị lấy máu nhiều lần và mỗi lần khoảng 5cc. Rồi được đưa vào phòng khám nội soi để phát hiện ra chỗ viêm loét. Hàng ngày theo giờ qui định bệnh nhân được phát thuốc viên, thuốc nước almagel giống như sữa, còn tiêm thì không đếm xuể. Chỉ biết khoảng một tuần nằm viện, tôi không thể ngồi được vì cơ mông xưng tấy, tối nào phải dùng túi cao su nước nóng chườm trước khi đi ngủ.

Nằm viện được dăm hôm, có Phạm Lê Ba, Chủ tịch Công đoàn đơn vị, cùng mấy anh em đến thăm. Cũng chẳng có quà cáp gì đâu, nhưng tôi vô cùng cảm kích. Trong phòng điều trị cùng với tôi có ông già Nga đã ngoài 70, móm, nói rất khó nghe, nhưng lúc nào cũng đùa tếu. Ông là người thích tìm hiểu nền văn hóa Á Đông. Suốt ngày hỏi tôi hết chuyện này đến chuyện khác. Nào chuyện gia đình, vợ con, rồi chuyện đánh Mỹ. Tôi nói nhân dân Mỹ thì tốt, còn chính quyền và lính Mỹ mới tồi. Ông không đồng ý với ý kiến này, phản đối gay gắt. Đến lúc dở lý sự cùn ông bảo, không có nhân dân Mỹ làm sao có lính Mỹ. Đến lúc này tôi thấy ông nói có lý. Phòng bên có mấy cụ bà tuổi đã 80, thỉnh thoảng đêm cũng bỏ về nhà. Tôi hỏi cụ ông giường bên, ông giơ tay làm hiệu, nghĩa là nhớ “ông xã”. Mấy cụ bà biết, liền hỏi lại: Ông bao nhiêu tuổi? Tôi 75. Thế thì ông còn trẻ con, chưa biết gì. Chúng tôi được trận phá lên cười.

       Nằm điều trị tại đây tôi có quen một số bạn người Nga, người Đức, người Uzbek và “Cô gái tóc nâu như mật chảy vào cõi nhớ”. Dáng Tanhia nhỏ nhắn như gái Việt, đôi mắt “màu biêng biếc”, khuôn mặt lúc nào cũng tươi rói. Được 2 tuần thì em ra viện. Lúc chia tay em cho tôi địa chỉ, số phôn nhà riêng, hẹn một ngày không xa gặp lại. Rồi hầu như ngày nào chúng tôi cũng gọi điện thăm nhau, có những ngày hai, ba bận. Những lúc thời gian nhàn rỗi, tôi đem sách ra đọc. Tối đến một mình ra nhà ăn viết lách. Vào một chiều ngày 20 tháng 9, sau xấp xỉ 3 tháng đến Barnaul đột nhiên mưa rơi, sau một lúc thấy những hạt mưa mau hơn có kèm theo tuyết. Tôi lại hình dung ra thời kỳ tuyết rơi ở Trung Á, cứ như vậy đêm đến tuyết mỗi lúc một dày hơn. Sáng hôm sau nhìn qua cửa sổ, thấy cả thành phố đắm chìm trong tuyết. Đây có lẽ là cái giá rét đầu mùa. Ngoài trời lạnh cắt thịt cắt da và trong tâm hồn tôi cũng không kém giá băng vì nỗi cô đơn, vắng người thân, gửi gắm cuộc đời trôi dạt về với mảnh đất Altai.
Thi An