/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Tin trong Nước

Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng: Nặng lòng với cuộc đời

Tiếng tụng kinh trong căn nhà vị Tướng, trầm luân nào có chừa ai - Nhà xuất bản Lao Động, 2012.

Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng: Nặng lòng với cuộc đời

Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng là một trong số những phóng viên chiến trường xông xáo, nhiệt huyết những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Chiến tranh kết thúc, ông làm báo, làm thơ. Trong mỗi tác phẩm, mỗi hành động của mình, ông vẫn nặng lòng với cuộc sống, với con người, với những đồng đội, đồng nghiệp...

 

Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng: Nặng lòng với cuộc đời

Nhà báo Dương Đức Quảng (thứ 2 trái sang) cùng các nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Khắc Phục, Thanh Quế, Trần Vũ Mai tại chiến trường Quảng Đà (1972).

Hôm trước, tôi cùng một số nhà báo vào thăm nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng. Ông không còn nói được nữa. Xung quanh là máy móc, dây dợ. Người bạn, người đồng đội của ông từ chiến trường chỉ kể lại một câu ông thường nói: Chúng ta sống trở về là lãi hơn nhiều đồng đội đã ngã xuống rồi.

Trong cuộc đời, ông luôn hành động giống những gì ông suy nghĩ.

1. Nhà báo Dương Đức Quảng có một ký ức tuổi thơ buồn. Ông sinh ra ở Hà Nội. Mẹ mất khi ông mới chưa đầy 5 tháng tuổi. Sự thiếu thốn, mất mát trở thành nỗi ám ảnh suốt cuộc đời ông. 7 chị em ông được bà bác đưa về Phú Thọ nuôi để bố đi kháng chiến chống Pháp. Lên 10 tuổi, cậu bé Quảng mới được theo bố về Hà Nội, ở trên gác 5, căn hộ chỉ vẻn vẹn 10 m2 khu tập thể 32 Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Từ nhỏ, ông đã rất mê đọc. Ông thường trốn bố ra lan can cheo leo trên tầng 5 của ngôi nhà tập thể ấy đọc sách. Nhưng trong ông vẫn là nỗi trống vắng, là khát vọng được tìm thấy mẹ. Ông nhớ, lần ấy ông mới 11 tuổi, mới ra đến Hiệu sách Nhân dân ở góc phố Hai Bà Trưng và Hàng Bài bây giờ, để đọc sách ké thì trời đổ mưa bão lớn. Ngẫu nhiên đọc được truyện ''Tìm mẹ'' của Nguyễn Huy Tưởng, ông khóc nức nở. Cậu bé Dương Đức Quảng lặng lẽ đi về trong mưa bão, nước mắt giàn giụa. 

Bố ông với đồng lương công chức eo hẹp, chỉ báo 3 suất cơm tập thể cho 4 cha con ăn hằng ngày. Người chị kề trên thương bố, sau giờ học, giấu bố rủ em đi bán sách báo dạo để có tiền giúp bố. Ông theo chị, cũng vài cuốn sách, tờ báo lang thang khắp phố, vừa bán vừa được đọc sách báo miễn phí và để có chút tiền mua vé xem phim. 

Ông trốn bố và chị xuống tận bãi chiếu bóng Lương Yên để xem phim, những bộ phim đã gắn liền với tuổi thơ cô đơn và gian khổ của Dương Đức Quảng. Có một bộ phim khiến ông day dứt mãi. Đó là phim "Vụ án mạng ở phố Dante" của Pháp, kể về một bà mẹ du kích Pháp hoạt động chống phát xít Đức, đã bắn chết đứa con của mình khi nó theo giặc. Ông buồn lắm. Mình là một đứa trẻ không có mẹ, và cả cuộc đời đi tìm mẹ, không hiểu sao lại có một bà mẹ bắn chết đứa con máu mủ của mình??? 

Không phải là người lính trực tiếp cầm súng tham gia chiến trận nhưng suốt tám năm liền Dương Đức Quảng có mặt ở những điểm đầu khói lửa với tư cách là phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam.

Năm 1966, đang học năm thứ tư ở Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chàng sinh viên Hà Nội Dương Đức Quảng và một số bạn học cùng lớp được Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) chọn về học lớp đào tạo phóng viên chiến trường, để rồi sau đó một năm, từ năm 1967 đến hết thời gian chống Mỹ, 8 năm liền làm phóng viên thường trú tại các chiến trường ác liệt nhất miền Bắc lúc bấy giờ là Quảng Bình, Vĩnh Linh, rồi đi B làm phóng viên Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, đi hết cuộc chiến tranh, cho tới ngày Bắc Nam sum họp một nhà.      

Chiến tranh với nhiều nỗi mất mát. Với nhà báo Dương Đức Quảng ngoài điều đó thì có thêm một điều lạ kỳ nhất mà nghiệp phóng viên chiến trường mang đến cho ông, chính là một tổ ấm gia đình. Tại chiến trường miền Nam, ông đã gặp và yêu thương một phóng viên TTXVN. Sau giải phóng cả hai về Đà Nẵng và tổ chức cưới. Sau này, vào Nha Trang, ông bà có với nhau một con trai và lấy hai chữ đầu và cuối của Đà Nẵng, Nha Trang để đặt tên cho con mình là Đà Trang. Và hôm nay, cậu con trai mang tên Đà Trang đã nối nghiệp cha mẹ, trở thành một nhà báo có tên tuổi trong làng báo. Anh là nhà báo Dương Đức Đà Trang, Phó Tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện Hà Nội của báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng: Nặng lòng với cuộc đời - 1

Nhà báo Dương Đức Quảng bật khóc khi thấy lại tấm dù của mình gửi anh Hoàng Quốc Thăng mang ra Bắc nằm lại cùng liệt sĩ Thăng trong hang đá trên núi Hòn Tàu (Quảng Nam) sau gần 40 năm.

2. Làm báo rồi đảm nhiệm nhiều chức vụ trong các cơ quan Nhà nước nhưng dù ở vị trí nào, ông vẫn làm báo, vẫn cùng đồng đội của mình đau đáu nỗi niềm kiếm tìm hài cốt những người đồng chí, đồng nghiệp đã hy sinh. Năm 2011, sau gần 40 năm day dứt và trăn trở, đồng chí, đồng nghiệp của ông ở Ban Tuyên huấn tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng trước đây) đã đưa được hài cốt của 5 liệt sĩ, trong đó có hai liệt sĩ nhà báo ở cùng Thông tấn xã Giải phóng Quảng Đà với ông về nơi yên nghỉ cuối cùng.

Nhà báo Dương Đức Quảng kể lại câu chuyện về đồng đội trong nghẹn ngào: “Hôm ấy là một ngày gần cuối tháng 5/1972, trong một hang đá trên núi Hòn Tàu, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Đà, nơi đặt điện đài đồng thời là chỗ ở của Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà chúng tôi, có một cuộc “liên hoan” nho nhỏ, chỉ là vài nắm mì chay với một chút cà phê loãng để tiễn một người xuống đồng bằng tham gia chiến dịch và một người ra Bắc chữa bệnh. Người xuống đồng bằng là tôi, Tổ trưởng Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà. Còn người ra Bắc chữa bệnh là anh Hoàng Quốc Thăng, điện báo viên, quê Hải Dương, vào chiến trường từ năm 1964, bị ốm đau, bệnh tật, sức khỏe kém, đang chờ ngày lên đường trở về hậu phương. Ngoài tôi và anh Thăng, Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà còn có anh Võ Công Thu, quê Quảng Nam, là điện báo viên. Đêm ấy, trước khi chia tay để tôi theo giao liên xuống đồng bằng, anh Thăng ôm chặt tôi dặn dò: “Chỉ còn vài ba ngày nữa tôi sẽ được ra Bắc. Ra đến Hà Nội thế nào tôi cũng đến thăm gia đình anh, chuyển quà của ông tới ông cụ thân sinh. Còn anh, xuống dưới đó nhớ cẩn thận và giữ gìn để sớm về với anh em…”. Món quà mà anh Thăng nói sẽ chuyển ngay tới bố tôi khi ra tới Hà Nội là một tấm vải dù của Mỹ tôi được một chiến sĩ Quân Giải phóng tặng sau một đợt tham gia chiến dịch, nay tôi nhờ anh Thăng mang ra Bắc tặng bố tôi, kèm theo bức thư tôi viết, báo tin tôi vẫn còn sống, gia đình yên tâm. Tôi cũng hiểu ý anh Thăng dặn dò phải cẩn thận và giữ gìn, vì trong những năm trước đó, mỗi năm thường có một hai nhà báo hy sinh trên mảnh đất này, còn từ đầu năm đến tháng 5/1972 chưa có nhà báo nào hy sinh! Tôi không ngờ, sau buổi chia tay đó, mãi mãi tôi không còn được gặp lại anh Hoàng Quốc Thăng, anh Võ Công Thu và một số đồng chí, đồng nghiệp khác”.

Ông xúc động và bật khóc khi thấy lại tấm vải dù của mình gửi anh Hoàng Quốc Thăng, người bạn đồng nghiệp mang ra Bắc tặng gia đình, đã không ra được miền Bắc, mà phải nằm lại với anh Thăng trong hang đá sau trận bom rải thảm B52 của Mỹ xuống căn cứ Hòn Tàu đêm 22 rạng ngày 23/5/1972!

Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng: Nặng lòng với cuộc đời - 2

Nhà báo Dương Đức Quảng và nhà thơ Hồ Ngọc Sơn (phải).

3. Dương Đức Quảng làm thơ. Ông không viết nhiều. Thơ, với ông, không cầu sự nổi tiếng, và tôi dám chắc, ông không làm thơ để trở thành nhà thơ. Thơ, với ông là sự ghi lại những rung động trong ký ức. Chiến tranh, những thân phận người, đồng đội, sự sống, cái chết, những chiêm nghiệm về đời sống, nhân tình thế thái. Bất chợt thấy mình lặng lẽ/ Trong tiếng hò reo vang trời/ hay Có phải càng bình dị/ Cuộc đời càng lớn lao...

Những câu thơ giản dị nhưng ngẫm sâu sự đời. Và hình như ông không chỉ nói câu chuyện của thơ. Những tình đời, những thân phận, trong câu thơ của ông, gần gụi đấy, hiện hữu đấy, nhưng trong đời sống tất bật hôm nay, mấy ai bận tâm. Nếu ai đó đọc thơ tôi/ Đọc xong vô cảm thì tôi rất buồn. Nỗi buồn của ông khiến tôi giật mình khi sự vô cảm đang chiếm lĩnh tâm hồn mỗi chúng ta. 

Đối với ông, một ngày được sống trên cuộc đời này, sống và thấm hiểu sự sống của mình đã đánh đổi bằng máu và nước mắt của đồng đội, là một ngày lãi. Nào có đi buôn mà tính lãi/ Cuộc đời lời lỗ mấy ai hay/ Chiến trận bao phen còn sót lại/ Chẳng lãi là chi, lãi từng ngày.

Lạ thay, con người đó, đi hết cả cuộc đời vẫn không thoát khỏi những ám ảnh về chiến tranh. Sau này, khi đã nghỉ hưu, ông đã viết liên tục và cho ra đời hai tập sách xúc động về những khuôn mặt của đồng đội năm xưa: Tiếng tụng kinh trong căn nhà vị Tướng, trầm luân nào có chừa ai - Nhà xuất bản Lao Động, 2012.

A.T. (bài viết tổng hợp tư liệu từ nhiều nguồn)
Theo đaioanket