/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Những bài khác

Nhà văn nữ Việt Nam: tâm hồn, tài năng và cống hiến

Và hàng năm xét giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nên xét cả các tác phẩm xuất sắc của các nữ văn nghệ sĩ.

Nhà văn nữ Việt Nam: tâm hồn, tài năng và cống hiến

Nguyễn Thị Mai
 

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thời kỳ nào phụ nữ cũng tham gia tích cực trên nhiều lĩnh vực của xã hội. Một trong những lĩnh vực quan trọng mà phụ nữ đã góp phần không nhỏ là sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần mà trong đó có sáng tạo văn chương.

Đây là lĩnh vực các chị đã phát huy mạnh mẽ từ nền tảng văn học truyền thống của dân tộc, tiếp nối những tên tuổi phụ nữ lừng danh trong lịch sử văn học nước nhà như nữ học sĩ Ngô Chi Lan; Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương; nữ sĩ kiệt xuất Bà huyện Thanh Quan…

Tính từ khi đất nước giành được độc lập dân tộc đến nay, các nhà văn nữ đã có một chặng đường sáng tạo đáng ghi nhớ với những cố gắng không mệt mỏi. Họ là những cây bút tin cậy, trung thành của đất nước và nhân dân, có lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc, tâm huyết với nghề nghiệp. Họ đã góp phần làm phong phú lực lượng sáng tạo nền văn học của dân tộc trong thời kỳ đổi mới.

 

Trước hết các nhà văn nữ là lực lượng đông đảo, tài năng, uy tín trong đội ngũ nhà văn Việt Nam

Hiện nay Hội Nhà văn Việt Nam đã có hơn 150 hội viên nữ trong tổng số hơn 900 hội viên. Các chị tham gia sáng tạo trong các lĩnh vực: thơ, văn xuôi, lý luận phê bình, dịch thuật văn học. Trong số hơn 150 nữ nhà văn ấy, người trẻ nhất 33 tuổi, cao nhất là 85 tuổi, 2/3 trong số họ đã trải qua và viết trong chiến tranh, nhiều chị từng là phóng viên chiến trường, một số chị đã xuất hiện trên văn đàn gần 60 năm nay, có 4 chị nhà văn là lão thành cách mạng (Bích Thuận, Nguyệt Tú, Lê Minh, Cẩm Thạnh). Đa số các chị đều có trình độ và đang có mặt ở tất cả các vùng miền của đất nước.

Với các nhà văn nữ, không chỉ là sự phát triển đông đảo về đội ngũ, mở rộng nhiều thế hệ mà còn nở rộ về số lượng tác phẩm và nâng cao về chất lượng sáng tác. Các chị, người ít nhất có 3 tập sách và người nhiều cũng 20 tập. Đa số các chị đều đã được giải thưởng sáng tác văn học từ cấp tỉnh đến cấp quốc gia. Đặc biệt có một số chị đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước (như nữ sĩ Anh Thơ,  Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Vũ Thị Thường, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Thị Ngọc Tú ) vì thành tích có các tác phẩm xuất sắc đóng góp cho nền văn học phục vụ nhân dân, đất nước.

 

Tác phẩm của các nhà văn nữ Việt Nam là tiếng nói yêu thương, đồng cảm sâu sắc với cuộc đời, gắn bó máu thịt với cuộc sống của nhân dân và nhập cuộc đồng hành với dân tộc, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Phụ nữ Việt Nam có đức tính yêu thương, bao dung nhân hậu với cuộc đời và yêu cái đẹp. Điều đó rất phù hợp với tính chân - thiện - mỹ của văn chương. Bởi văn chương cần có cảm xúc mãnh liệt, thể hiện sự đồng cảm của trái tim, lý tưởng hóa cái đẹp đồng thời không dung tha cái ác. Vì thế các chị say mê sáng tác bởi sự thôi thúc từ trong nhân tâm, muốn lắng nghe, chia sẻ và cảm nhận tinh tế niềm vui nỗi buồn của cuộc đời bằng ưu thế riêng của phụ nữ. Hơn thế, các chị còn là người mẹ, người vợ, người yêu nên những phẩm chất tốt đẹp đã tự nhiên “phiên bản” vào tác phẩm của mình.

Tác phẩm của các chị cũng là tiếng nói xót thương, bênh vực những người nghèo khổ và thiệt thòi mà trong đó trăn trở nhiều nhất là thân phận của người phụ nữ dưới biết bao tác động của lịch sử, kinh tế, văn hóa. Họ là người mất con, mất chồng, mất tình yêu vì chiến tranh; họ là kẻ ốm đau, bệnh tật, đói khát vì nghèo túng; là “hàng hóa” trong tay kẻ vô đạo thời cơ chế thị trường, là những số phận hẩm hiu, cô độc do kém cỏi, do bị phân biệt đối xử hoặc bị tàn tật từ hậu quả chiến tranh... với bút pháp dịu dàng mà quyết liệt, các nhà văn nữ thể hiện cảm thông sâu sắc, động viên họ, đồng thời gửi thông điệp khẩn thiết đối với cộng đồng hãy biết chia sẻ hay làm một điều gì đó có ý nghĩa cho những thân phận khổ đau kia.

Đất nước chúng ta đã qua hai cuộc chiến tranh và hơn ba chục năm xây dựng, đổi mới để phát triển. Thời kỳ nào cũng có nhà văn nữ tham gia, chứng kiến và phản ánh kịp thời các sự kiện quan trọng của đất nước. Các chị đã dấn thân vào đời sống để hiểu cặn kẽ, sâu sắc giá trị hy sinh gian khổ của nhân dân qua mỗi chặng đường lịch sử, luôn gắn chặt khát vọng của mình với khát  vọng của nhân dân và tiền đồ của dân tộc. Có phải do sự nhạy cảm riêng của phụ nữ mà họ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới? Vì thế tác phẩm của các nhà văn nữ Việt Nam như những trang nhật ký bằng cảm xúc đặc biệt ghi lại mọi sự kiện, sự việc của đời sống. Vì thế tác phẩm của họ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm tư tình cảm của nhân dân, bồi đắp tính nhân văn cho con người và tác động thực sự đến nhận thức của xã hội nhiều hơn. 

 

Thơ, của các tác giả nữ là sự khám phá chính thân phận mình với nhu cầu bộc bạch và giải tỏa của các cây bút nữ.

Văn học nghệ thuật muôn đời là sự khám phá, sáng tạo của con người về chính bản thân con người. Thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam không ngoài quy luật ấy.

Thật vậy, có thể nói có bao nhiêu nhà thơ nữ là bấy nhiêu tính cách tiêu biểu với những số phận không giống nhau. Là phụ nữ nhưng không phải ai cũng được làm vợ, làm mẹ với thiên chức trời phú. Càng không phải ai cũng hạnh phúc đủ đầy hoặc may mắn. Và khi các chị cô đơn hay gặp nỗi khổ đau quá sức, các chị phải tìm đến vị cứu tinh cho mình. Ấy là thơ. Các nhà thơ nữ đã lấy thơ để tâm tình, giải tỏa mỗi khi chạm đến nỗi bất hạnh của đời mình. Các chị dám đối diện với nỗi đắng cay bị phản bội, bị ruồng bỏ trong tình yêu; sự khốn khó, đói nghèo; nỗi cô đơn, bất hạnh.v.v. Điều tuyệt vời trong đa số các chị là tuy rất đau khi mổ xẻ thân phận nhưng vẫn hiểu rằng mình chỉ là một bản thể nhỏ trong nỗi khổ của kiếp người. Nên thơ các chị buồn nhưng sang trọng, đau mà không sướt mướt, gục ngã. Các chị biết tựa vào thơ để vượt lên nỗi thống khổ của cuộc đời và song hành cùng quy luật xã hội.

Là thi sĩ đồng thời là phụ nữ, nếu gặp số phận bất hạnh nhất định sẽ bị áp lực nặng nề hơn nam giới, hơn người thường. Tựa vào thơ chưa đủ, các chị còn biết tựa vào sự dịu dàng của giới mình, tựa vào niềm tin con người để đi qua nỗi bất hạnh. Vì vậy các nhà thơ nữ Việt Nam dấn thân cho thơ ca cũng còn lý do để hoàn thiện hơn con người mình.

Hiện nay một số cây bút nữ đang thể nghiệm sáng tác bằng những cách tân hình thức, bứt phá khỏi truyền thống. Việc thể nghiệm sáng tác bằng những cách tân hình thức, đi tìm con đường mới để có những tác phẩm đạt giá trị đột biến, mang tính tiên phong là hướng đi đang được khích lệ. Tuy nhiên cùng với nó, việc bứt phá thoát ra khỏi văn chương  truyền thống cũng không phải dễ dàng bởi sáng tạo là hồn phách, là sự nung nấu cảm xúc, là trí tuệ, tài năng và cả những trăn trở khổ đau trên từng con chữ. Vì vậy số các nhà văn nữ sáng tác theo con đường thể nghiệm không nhiều. Chủ yếu là các cây bút nữ còn trẻ tuổi, họ sinh ra sau chiến tranh và sống trong thời kỳ đổi mới. Văn họ táo bạo, giàu chất sống, khai thác tối đa bản thể cá nhân con người và mang dấu ấn thời đại rất rõ. Tuy hướng tìm tòi này cũng đạt được một số kết quả nhất định và thực sự có những khởi sắc đáng ghi nhận nhưng công chúng và bạn đọc vẫn chờ đợi những tác phẩm mang đậm bản sắc tâm hồn dân tộc, gần gũi với nhân dân lao động và cuộc đời của họ.

 

Những thuận lợi và khó khăn trong sáng tác của nhà văn nữ Việt Nam

Như trên đã giới thiệu, hầu hết các nhà văn nữ Việt Nam hiện nay đều có trình độ do được đào tạo, học hành. Phần lớn các chị có bề dày trải nghiệm, có vốn sống phong phú. Các chị được gia đình và Hội Nhà văn hỗ trợ về phương tiện vật chất, được sống và viết trong thời kỳ đất nước đang tích cực đổi mới, đẩy mạnh hội nhập nên hiện thực cuộc sống phong phú, mới lạ, sinh động tạo điều kiện cho các chị tự do thăng hoa nguồn cảm hứng. Bên cạnh đó, các chị có nhiều cơ hội giao lưu, tìm tòi, học hỏi để vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao sáng tạo. Đây cũng là những thuận lợi cơ bản của phụ nữ sáng tạo nghệ thuật Việt Nam nói chung và nhà văn nữ nói riêng.

Tuy nhiên các chị cũng có những khó khăn thách thức đang phải vượt lên. Đó là: những người còn trẻ khỏe thì bận lao vào chuyên môn khác để mưu sinh, vì văn chương nghệ thuật không nuôi nổi họ và gia đình nên họ chưa thể dồn hết thời gian, tâm trí, sức lực cho sáng tạo. Các chị cao tuổi đã rảnh rang, ổn định cuộc sống, không phải lo con cái gia đình lại đến tuổi ốm đau, bệnh tật, thiếu sức khỏe, thiếu tiền để đi thâm nhập thực tế nên khó có tác phẩm sống động, tươi mới. Khó khăn nữa ấy là hầu hết chị em văn nghệ sĩ nói chung đều có vai trò làm vợ, làm mẹ trong từng gia đình. Họ không thể bỏ mặc chồng con, gia đình để ngồi viết hoặc sáng tác triền miên trong khi các nhà văn, nghệ sĩ nam có thể quên vợ con và gia đình của họ để say mê sáng tạo bất kể bao lâu, bất cứ ở đâu ngoài gia đình. Tiếp nữa là đời sống kinh tế nhiều chị rất hạn hẹp, không có điều kiện in ấn hoặc trưng bày tác phẩm nên phạm vi ảnh hưởng của họ đã bị thu nhỏ. Và một khó khăn nữa không thể không kể là những định kiến xã hội còn tồn tại, ngay cả đối với các nhà văn nữ mặc dù rất nhiều chị đã vượt lên những định kiến đó để cạnh tranh công bằng trong lao động sáng tạo, nhiều người đã giành được giải cao trong những cuộc thi văn chương trong cả nước. 

Những đánh giá nhận định trên có thể chưa đủ. Dù sao đã thấy được những cố gắng rất đáng trân trọng trong lao động sáng tạo của các nhà văn nữ. Các chị đã thực sự dùng ngòi bút của mình góp phần vào việc hoàn thiện con người trước sự rạn nứt của nền tảng đạo đức, văn hóa của thời kinh tế thị trường. Các chị đã lên án cái xấu một cách gay gắt, quyết liệt để làm trong sạch xã hội, cứu lấy lương tâm con người. Các chị xứng đáng là nhà văn – chiến sĩ trên mặt trận sáng tạo văn học.

 

Từ tất cả những điều đó, chúng tôi mong rằng Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Nhà nước và các tổ chức liên quan cần quan tâm hơn nữa đến các nhà văn nữ nói riêng và nữ văn nghệ sĩ nói chung bằng các chính sách, chế độ đãi ngộ đặc biệt. Ví dụ: Tài trợ kinh phí sáng tác, in hoặc trưng bày tác phẩm; hỗ trợ tổ chức các hoạt động đi thực tế sáng tác, mời các nữ văn nghệ sĩ tham gia hoạt động giao lưu trong và ngoài nước để các chị có cơ hội gặp gỡ, học hỏi hiểu biết lẫn nhau và tuyên truyền cho nền văn học nghệ thuật của nước nhà. Và hàng năm xét giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nên xét cả các tác phẩm xuất sắc của các nữ văn nghệ sĩ.
Theo vannghe