/Có nghe góc bể chân trời. Sông mê mẩn khúc lở bồi gọi xanh/ Thơ Lâm Xuân Vy

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

văn xuôi

CÓ HAY KHÔNG, VIỆC HAI VUA TRẦN ĐÓNG ĐẠI BẢN DOANH Ở THIÊN LONG

Dĩ nhiên hội thảo này, với nhiều trang Kỷ yếu đã in, có những thành công đáng ghi nhận ở nội dung khác, nhưng  đó không thuộc về  bài viết của tôi.

CÓ HAY KHÔNG, VIỆC HAI VUA TRẦN ĐÓNG ĐẠI BẢN DOANH Ở THIÊN LONG UYỂN XÃ YÊN ĐỨC, ĐÔNG TRIỀU, ĐỂ CHỈ HUY TRẬN ĐÁNH BẠCH ĐẰNG NĂM 1288 ?

       *  *                                                                               TRẦN NHUẬN MINH

       Tháng 12 năm 2021, tại TP Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, đã diễn ra một hội thảo khoa học cấp Quốc gia: “ Vị trí vai trò của Thiên Long uyển  trong chiến thắng Bạch Đằng năm 1288”, nhằm xây dựng hồ sơ đề nghị cấp thẩm quyền công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Các tham luận được xuất bản thành tập Kỷ yếu 284 trang. Trong đó, điều tôi quan tâm nhất là vấn đề “Hai vua Trần  đã đóng đại bản doanh ở Thiên Long uyển xã Yên Đức huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh để trực tiếp chỉ huy trận đánh Bạch Đằng năm 1288”. Vì đây là một vấn đề hoàn toàn mới, được coi là thành công quan trọng nhất của hội thảo này, như một số báo đã loan tin, và nếu điều đó là có thật, thì tôi rất mừng, dù lịch sử thời Trần và diễn biến của trận đánh vĩ đại này, lịch sử và sách giáo khoa hiện hành sẽ phải viết lại.

       Đầu tiên chúng ta cần biết Thiên Long uyển cụ thể như thế nào? Tôi đã  thường xuyên qua lại nơi này 4 năm, vì tôi dạy môn sử học trường phổ thông ở sát cạnh đó, và 3 năm sống trực tiếp ở đó cả ngày lẫn đêm, vì được chuyển về dạy sử học ở đó. Tôi đã nhiều lần vào sâu trong di tích này. Thời ấy, từ làng Chí Linh, xã Yên Đức, nơi tôi dạy môn sử học, sang làng Đức Sơn, nơi có Thiên Long uyển, cách nhau một cái lạch nước rộng khoảng 60 đến 70 mét, phải đi bằng thuyền nan nhẹ hay bè chuối. Khi nước triều rút thì lội sang được, nước chỉ cao  từ đầu gối đến ngang ngực là cùng. Các cụ cao niên đã từng học chữ thánh hiền, lần lượt đưa tôi đi từng góc rừng, dưới những cây cao trên dưới 100 tuổi, các cửa hang ẩm ướt đầy lá mục, không sót một chỗ nào, rất nhiều lần trong 7 năm. Không có một cụ nào nói với tôi là hai vua Trần đã “ đóng đại bản doanh ở đây để chỉ huy đánh trận Bạch Đằng”. Tuyệt đối không.  Các cụ chỉ nói, ở thời Trần, đây là đất của ông Tể tướng Trần Khắc Chung giao cho em nuôi làm chùa để thờ cúng. Điều cần chú ý là ông Chung nhận đất này rất lâu sau trận Bạch Đằng 3/1288 ( bia đá khắc việc đó vào ngày 4/3/1348,  tức là tròn 60 năm sau – Kỉ yếu, trang 25 ) vì sau khi thắng giặc nhiều năm, vua Trần mới trả đất này cho Bảo Hoàn, con một vị tôn thất hàng giặc mà bị tịch thu, Bảo Hoàn là vợ  ông Trần Khắc Chung. Nếu hai vua Trần đã đóng đại bản doanh ở đây để trực tiếp chỉ huy trận Bạch Đằng vang dội vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc, nếu có điều ấy, bia đá trên phải ghi chứ?  Sao lại không? Các cụ cho tôi biết ở thời Nguyễn đánh Pháp, ông Đốc Tít đã đóng quân ở đây, trong hang còn tìm thấy một cái mâm đồng của nghĩa quân. Tôi nghe thế chứ chưa trông thấy cái mâm đồng ấy và lúc ấy, cũng không biết cái mâm đồng ấy có còn ở trong hang hay đã ở đâu. Ngoài điều đó, suốt 7 năm ở đây, từ 1962 đến 1969, tôi tuyệt đối không thấy có một ai nói một điều gì hơn. Các cụ đưa tôi đến nơi có 3 chữ “Thiên Long uyển” với chữ thiên1 nghìn, không phải thiên là Trời để ngụ ý nói nhà vua, vì thế, không một cụ nào nói đây là vườn thượng uyển của vua Trần. TS Nguyễn Văn Anh, Trưởng Khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội, nhân vật mà tôi nghĩ là chủ chốt nhất của công trình khoa học này, nói, khi trả lời phỏng vấn của báo Quảng Ninh:“Vườn nghìn rồng cũng giống như vườn thượng uyển của vua vậy” . Khác hẳn nhau lắm lắm chứ, sao lại “giống như” được, ông TS ơi! Vì ông TS coi 2 loại vườn  đẳng cấp hoàn toàn khác xa nhau này là một, là vườn của vua, chính ông nói, ông coi đây là “ điểm xuất phát của ông, mà tôi coi là của tư duy khoa học của ông.  ( Thiên Long Uyển, xứng đáng là Di tích Quốc gia đặc biệt, Báo Quảng Ninh Cuối tuần, số 1029 ( 1077) Phan Hằng thực hiện, ngày 2/1/2022, tr. 5 ), nên ông kéo vua về đây đóng quân cho hợp lí chăng ?

       Điều gọi là “truyền thuyết dân gian địa phương” mà vài trang Kỷ yếu đưa ra  ( từ năm 2008 – như  ông TS Anh viết trong  Kỉ yếu ở bài báo trên, dù không nêu văn bản nào in) về vua Trần đóng  quân ở đây, chỉ rộ lên khi các nhà doanh nghiệp muốn biến nơi này –  với núi Mèo, ở gần đấy, cùng 1 xã  -  thành một Trung tâm  du lịch lịch sử và tâm linh cấp Quốc gia về các vua Trần, kết nối với các Di tích nhà Trần ở Đông Triều. Chính tôi đã vài lần viết bài, hoan nghênh dự án này, nhưng nói là nơi “ ngự” của vua Trần, vua Trần đóng quân, vua Trần làm thơ khắc lên đá… ở đây, thì tôi can, vì  không có căn cứ. Điều đó góp phần làm cho ý tưởng được nhiều người ủng hộ trên,  bị dừng lại nhiều chục năm. Ngay bài thơ Nôm đề ở núi Mèo xã Yên Đức, niêm luật chặt chẽ, câu chữ chắc lọc điêu luyện chỉ thấy ở thơ Nôm luật đường cuối thời Nguyễn (*) lại viền long li qui phượng , với hình chân con rồng đặc thời Nguyễn, tên tác giả lại ghi rõ là  Nhân TÔN.  Ông Hoàng Giáp, trong nhiều lần ông trả lời phỏng vấn trên truyền hình, trên báo giấy và báo điện tử - đều ghi ông có học hàm Giáo sư. Không hiểu căn cứ vào đâu mà ông GS  khẳng định chắc chắn đến 4 lần là  thơ  khắc đá ở Núi Mèo “ đã có từ thời Trần” ( tức là của vua Trần Nhân Tông viết lúc sinh thời ( 1258 – 1308) trong bộ Di sản Hán Nôm tỉnh Quảng Ninh, Nxb Hà Nội, 2020), mặc dầu, tôi nghĩ,  ông Giáp biết hơn ai hết không phải thế, vì Trần Nhân Tông là miếu hiệu, tên này chỉ có và chỉ được gọi sau khi vua Trùng Hưng Trần Khâm ( tên hiệu và tên húy thật  của Ngài)  đã băng hà được 1 năm rồi, và TÔN là chữ viết chệch đi sau năm 1841, tránh tên húy của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn là Nguyễn Phúc Miên TÔNG. Rõ ràng nhà Hán Nôm học biết thế, chính ông cũng đã viết đúng như thế ( kiêng tên húy của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn) ở trang khác của tập sách, nhưng trang về Trần Nhân Tông  và xã Yên Đức, cũng một tập sách ấy, thì chính ông lại viết ngược hẳn lại, để được lòng nhiều người. Về sử học và văn học sử, tôi không tin một số luận điểm của ông Giáp, như lần ông trả lời phỏng vấn của báo Quảng Ninh mà tôi trích nguyên văn ngay dưới  đây:

“ Giáo sư Hoàng Giáp: “ Quảng Ninh có di sản Hán Nôm rất đồ sộ” - Phạm Học thực hiện. QNĐT cập nhật 14.58 ngày Chủ nhật 09/ 11/2014 (GMT+7)

   -Vậy theo GS, chuyện TQT ( Trần Quốc Tảng ) ra Cửa Ông, mất ở đây là không còn gì phải bàn cãi?

+   Đúng thế. Nói TQT ( Trần Quốc Tảng)  không ở đó, không mất ở đó mà chỉ là nhầm lẫn với T Tung... ( Trần Tung)  tôi nghĩ là thiếu cơ sở khoa học, thiếu căn cứ lịch sử… Trong năm nay, tôi sẽ đưa ra một công trình để chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề này, với đầy đủ bằng chứng lịch sử ”. (  báo Quảng Ninh  Cuối tuần  số  667 ( 715)  ngày 09/ 11 / 2014 và cập nhật ngay trên QN điện tử lúc 14.58  cùng ngày ). Vậy mà bạn đọc chờ ông mãi, đến tận ngày hôm nay, sau rất nhiều năm, có thấy một chữ nào của công trình đó đâu. Cũng thông cảm với ông,  vì nó không có.

              TS Nguyễn Văn Anh,  ngay mở đầu ở trang 3 Kỉ yếu,  đã khẳng định rõ rệt: “ Kết quả đề tài đã làm rõ phạm vi của chiến trường, đồng thời chỉ rõ Thiên Long uyển là đại bản doanh cuả hai vua Trần trong trận Bạch Đằng năm 1288”(  TNM nhấn mạnh) . Vậy mà đọc hết toàn bài của ông và cả tập Kỉ yếu 284 trang, không thấy có một chứng cứ nào có thể tin cậy được, để chỉ rõ  điều  đó. Tôi  nghĩ,  để bạn đọc có thể tin ông là một TS sử học, “nói có sách, mách có chứng”, ông nên chỉ rõ các căn cứ ra, trong sách nào, cho mọi người thấy những căn cứ nào có thể tin được, chứng tỏ hai vua Trần đã đóng  đại bản doanh ở đây,  nơi có cái vườn mà ông cho là vườn thượng uyển của nhà vua, mà trong toàn tập Kỉ yếu này, tôi không thấy có.  Cùng với ông, còn có 2-3 nhà khác, cũng như ông, chỉ nói khơi khơi ( để “chiều lòng người mến mộ” ) vậy thôi,  mà không qua bất cứ một căn cứ nào rõ ràng trong sách cổ ( dù là sách ở trong nước hay ở nước ngoài – các tập  Nguyên sử của Trung Quốc),  hoặc một bằng chứng nào rõ ràng qua các cuộc khai quật khảo cổ học mà các ông đã làm trong nhiều năm. Đóng đại bản doanh để chỉ huy một trận đánh lớn, ắt phải có nhiều quân và ở đây không chỉ một sớm một chiều. Vậy mà qua 5 bài viết, dài đến 26 trang in (Kỉ yếu,  từ trang 258 đến 284)  về “kết quả nghiên cứu  điều tra và khai quật ” ở đây, của 5 nhóm tác giả, với diện tích đào bới khá rộng, trong nhiều năm, mà TS Anh tham gia  2 nhóm,  không thấy công bố có một di vật nào tìm kiếm được của quân đội nhà Trần, có thể làm bằng chứng, chứ chưa nói đến vũ khí của quân lính hay đồ dùng của các vua Trần.  Đặc biệt trong 5 bài đó, có bài Kết quả khai quật di tích Thiên Long uyển… của nhóm tác giả, gồm 6 người trong đó có TS Anh, ở trang 268, có  đoạn: “… nhưng các bằng chứng này, KHÔNG ĐỦ CƠ SỞ để kết nối các di tích thời Trần tìm thấy ở đây,  với các hoạt động của vua Trần trên vùng đất này”.  Tôi nghĩ,  đó là câu trung thực nhất về mặt khoa học lịch sử có trong Kỉ yếu này. Có lẽ vì thế, sau khi đã chỉ rõ ( nghĩa là có hẳn hoi rồi) trang 3,  thì ngay ở trang 4,  TS Anh lại viết: “ Thiên Long uyển  CÓ THỂ là nơi đóng đại bản doanh của hai vua Trần” (?).  Đã khẳng định là chỉ rõ rồi, sao sau đó lại có thể, là chưa rõ?  GSTS, NGND  Nguyễn Quang Ngọc ( Đại học Quốc gia Hà Nội) trang 37 Kỉ yếu, viết: “ CÓ LẼ hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã thêm một lần chuyển sở chỉ huy hay đại bản doanh về khu vực núi Thiên Liêu, thuộc thôn Đức Sơn, xã Yên Đức, huyện Đông Triều để trực tiếp chỉ huy các lực lượng tác chiến…” Thêm một lần, là nói đại bản doanh hai vua Trần ĐÃ đóng ở núi Dương Nham, lại phải chuyển về Thiên Liêu. Chưa bàn việc 2 vua Trần ĐÃ đóng đại bản doanh ở núi Dương Nham, vậy thì vì sao lại phải chuyển cấp tốc đại bản doanh từ đó về Thiên Liêu, mà ta biết điều đó trong chiến tranh tổng lực ác liệt, mật thám giặc như rươi, là điều không thể manh động, tùy tiện.  Tôi muốn  ông  GS chỉ rõ, vì sao lại phải làm thế, khi mà 2 địa điểm theo Kỉ yếu là cùng ở 1 huyện, là huyện Giáp Sơn, châu Đông Triều, cách nhau chỉ khoảng 10 km cùng sát bên một dòng sông.  Trong khi  cuộc chiến tranh lần thứ 3 này, chỉ diễn ra vẻn vẹn trong khoảng 3 tháng ? Chứng cứ nào cho biết có sự chuyển đổi vội vàng, bất ổn về mặt chiến lược và rất khó giữ được bí mật này.  Luận điểm của GS Ngọc rất  khó tin. Tôi đã 1 lần trực tiếp nghe GS phát biểu trong Hội thảo khoa học  cấp Quốc gia về Hoàng Cần tại Quảng Ninh, là 2 vua Trần từ Thăng Long bí mật về Ba Chẽ để gặp Hoàng Cần ( nhiều khả năng là nhân vật truyền thuyết, không có thật  - TNM) chỉ đạo  Hoàng Cần đánh giặc Nguyên ( trong khi giặc Nguyên và các giặc Phương Bắc, chưa bao giờ đánh vào Việt Nam qua đường bộ Ba Chẽ, Quảng Ninh hiện nay) . Về việc này, Đại Việt sử kí toàn thư  ( ĐVSKTT ) tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1971  trang 58 -59, ghi nguyên văn rõ ràng như sau ( bản dịch): “ Thế quân giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ, đến nguồn Tam Trĩ, sai người chở thuyền ngự ra Ngọc Sơn ( tức là Móng Cái  - TNM chua thêm) để đánh lừa quân giặc. Lúc ấy xa giá nhà vua xiêu giạt, mà Quốc Tuấn vốn tự phụ kì tài…” Việc ghi vào quốc sử ấy, xảy ra vào tháng 2 năm Ất Dậu, 1285. Như vậy,  do bị giặc truy sát,  có Quốc Tuấn tháp tùng, hai vua phải lừa giặc, bí mật chạy ra đây, rồi bí mật lên bộ đi tắt về phía sau… Tôi đã căn cứ vào đó, viết bài, bác bỏ luận điểm này của GS và cho rằng, đây là nhà khoa học rất yêu Quảng Ninh tưởng tượng và  “sáng tác” ra.

        Vậy ta xem  ĐVSKTT  – bộ Quốc sử cổ nhất ( 1497)  và đáng tin cậy nhất của nước ta về trận Bạch Đằng ấy,  đã viết về điều ta suy đoán ấy như thế nào . Sau đây là nguyên văn :“ Mậu Tí, tháng 4 ( 1288),  Mùa xuân tháng Giêng, Ô Mã Nhi đánh và phủ Long Hưng” (  Thái Bình - đất phát tích và đặt lăng miếu của nhà Trần – rõ ràng là  hai vua và  Hưng Đạo vương phải  đánh giặc tại đây -  TNM ghi thêm). “ Ngày 8, quan quân họp đánh ở ngoài  biển Đại Bàng , bắt được 300 chiếc thuyền đi tuần của giặc và chém được 10 thủ cấp. Quân Nguyên bị chết đuối rất nhiều”. Tại trang 294 sách này, chú thích : “Đại Bàng thuộc huyện Nghi Dương ”, Kiến An.  Tiếp liền sau đó: “ Tháng 2, ngày 19, Ô Mã Nhi  đánh vào trại Yên Hưng . Tháng 3 ngày 8, quân Nguyên hội ở sông Bạch Đằng để đón thuyền  của bọn Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Hưng Đạo vương đem quân đánh, giặc bị thua.” ( ĐVSK TT  tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1971, trang 67).  Như vậy, rõ ràng là  hai vua Trần do Hưng Đạo vương tháp tùng, vào trận Bạch Đằng là cất quân về  từ cửa Đại Bàng, nay là Kiến An về Thủy Đường, nay là Thủy Nguyên và đánh xuống Bạch Đằng là  từ bên kia sông, thuộc Hải Phòng hiện nay. Đến đây lại thấy một “ sáng tác mới ” của ông TS sử học Nguyễn Văn Anh, là tách 2 cánh quân xa hẳn nhau, cách nhau đến trên 100 km, lại có 3 hay 4 con sông chia cắt, để dẫn đến kết luận là Hưng Đạo vương vào trận Bạch Đằng là từ Kiến An về ( bên kia sông) còn hai vua Trần vào trận Bạch Đằng là đánh từ Thiên Liêu xuống ( bên này sông).  Sự kiện đó chưa từng ghi trong lịch sử, bởi Hưng Đạo vương luôn tháp tùng hai vua Trần, không để hai vua chạy giặc một mình, đánh giặc một mình, sự an nguy của xã tắc không thể lường được, nên sử chỉ ghi có một cánh quân từ sau phía Kiến An về mà thôi. Điều này hoàn toàn phù hợp với  các di tích còn lưu lại của trận Bạch Đằng, với núi Voi, và các địa danh Lưu Kì, Lưu Kiếm …, nơi hai vua Trần và Hưng Đạo vương đã đi qua.  Sau này, bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục ”của Quốc sử quán triều Nguyễn, và vài chục năm gần đây, tập sách khoa học đáng tin cậy nhất  “Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông …”  của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm… đến tập “Nguyên sử”, “Tân Nguyên sử” của Trung Quốc, “An Nam chí lược” của Lê Tắc, sử gia giặc trong quân đội nhà Nguyên, ghi ngay tại chiến trận (1288),  từ việc Trấn Nam vương Thoát Hoan lập 2 kho lương ở Vạn Kiếp, đến việc Hữu thừa tướng Trình Bằng ( Lê Tắc ghi là Trình Bằng, 200 năm sau ( 1497), Ngô Sĩ Liên ghi là Trình Bằng Phi)  bị Trần Tung đánh du kích, thường cho quân lẻn vào trại giặc quấy nhiễu hay đánh lẻ tẻ, quân Nguyên mệt mỏi, rút chạy từ chợ Đông Hồ ( Đông Triều)  theo đường tắt về Bắc Giang,  ngày 3 /3 năm Mậu Tí, trước trận Bạch Đăng chỉ  có 4 - 5 ngày sau,… mà GS Tấn đã khai thác rất triệt để…tuyệt không có một chữ nào liên quan đến việc các nhà khoa học họp ở Uông Bí, muốn khẳng định đại bản doanh của hai vua Trần đã đóng ở núi Thiên Liêu, cách chợ Đông Hồ khoảng 10 km,  để trực tiếp chỉ huy tác chiến trận Bạch Đằng, ngày 8 /3 năm Mậu Tí, trong khi không đưa ra được bất cứ một bằng chứng hay một căn cứ khoa học nào có thể tin cậy được. Nếu ngay lúc đó, tại đó,  ĐẠI BẢN DOANH ( nghĩa là hàng NGÀN quân thủy bộ) 2 vua Trần đang  đóng ở Yên Đức sát đó thì phải có giao tranh chứ, với tốc độ của kị binh Mông Cổ, từ chợ Đông Hồ đến Yên Đức, chỉ khoảng 10 phút sau là đã đến nơi.Vậy mà điều đó hoàn toàn không xảy ra. Chỉ riêng điều ấy thôi, đã chứng tỏ hai vua Trần KHÔNG ĐỐNG ĐẠI BẢN DOANH ở Yên Đức.

         Đây là một vấn đề rất lớn không chỉ đối với một vùng đất, mà còn cả lịch sử dân tộc, vì thế, chúng ta còn phải tiếp tục kiếm tìm thêm, nghiên cứu kĩ lưỡng, đối chiếu rõ ràng, minh bạch…  không thể kết luận vội vàng “ Qua nghiên cứu, đã khẳng định Thiên Long uyển  là nơi hai vua Trần đã đóng đại bản doanh để chỉ huy tác chiến trận Bạch Đằng năm 1288, nên đã đủ điều kiện để …” như một số báo  đã công bố sau hội thảo. Vì kinh nghiệm đã quá nhiều cho biết rằng, sai lầm về lịch sử là rất nguy hại và nói chung, trong rất nhiều trường hợp, là không có khả năng sửa chữa.

         Dĩ nhiên hội thảo này, với nhiều trang Kỷ yếu đã in, có những thành công đáng ghi nhận ở nội dung khác, nhưng  đó không thuộc về  bài viết của tôi.     

 

---------------------------------              

(*)  Bài thơ chữ Nôm, tôi chép trên bia đá núi Mèo năm 1962  là thơ thời Nguyễn, viết sau năm 1841, gán cho vua Trần Nhân Tông. Văn học sử xác nhận, các bài thơ Nôm thời Trần đến nay đã thất lạc hết không còn bài nào. Chỉ riêng Cư trần lạc đạo phú là áng văn xuôi thiền học ghi trong sách Phật, lưu giữ tại nhà chùa,  vì thế mà còn truyền lại mà thôi.

TRẦN TRIỀU NHÂN TÔN HOÀNG ĐẾ NGỰ ĐỀ ( 1292)

Đứng thốc trên sông một đọi đèo

Vặn hình ra thể dáng con mèo

Đá xương đất thịt, da không mốc

Cỏ vện hoa vằn, dạ chẳng meo

Cáo thỏ kinh hơi, rừng vắng ngắt

Kình nghê tăm bặt, nước trong veo

Xanh trì vũ trụ chân ngoèo vững

Ắt hẳn nghìn năm kín chẳng nghèo./.

T.N.M