/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TIN TỨC

HAI PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT TRONG... TRUYỆN KIỀU

Ở phiên tòa thứ nhất,nàng Kiều đã thắngvì tình. Nhưng trong phiên tòa thứ hai này,nàng lại thua về lý.

HAI PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT TRONG... TRUYỆN KIỀU

Vũ Hữu Sự




I
Gọi là đặc biệt, vì cách xử án của hai vị quan tòa rất...đặc biệt. Vụ án dẫn đến phiên tòa thứ nhất như sau : Nghe tiếng đồn, Thúc Sinh, chàng công tử con nhà “đại gia” đã tìm đến kỹ viện của Tú Bà, gặp cô “ca ve” Vương Thúy Kiều để chơi bời. Nhưng gặp rồi thì “càng quen thuộc nết, càng dan díu tình”, nhất là sau khi được chiêm ngưỡng tấm thân “trong ngọc trắng ngà” của nàng với cái “tòa thiên nhiên” tuyệt mỹ lúc nàng “tẩm hoa (tắm)” thì chàng càng mê đắm, càng muốn sở hữu riêng nàng, tức là muốn lấy nàng làm vợ, dù lúc đó chàng đã có vợ chính thức là con gái vị đầu triều (thiên quan trủng tể). Nhưng muốn lấy được nàng Kiều đâu có dễ , vì lúc đó nàng đang là “cây tiền” của mụ Tú, đời nào mụ chịu nhả ra. Biết thế, chàng Thúc bèn tiến hành một kế hoạch rất khôn ngoan: Trước hết chàng hãy dấu nàng một nơi, rồi bắn tin cho mụ rằng chàng đã “chiến, hòa sắp sẵn hai bài”. Chiến, tức là nếu mụ đến chỗ chàng gây sự, đòi người, thì chàng sẽ tố cáo mụ cái tội ép con gái nhà lành làm đĩ, mà nhân chứng chính là nàng Kiều. Còn hòa ? tức là nếu mụ im đi, chấp nhận, thì chàng sẽ hoàn lại cho mụ cái số “vàng ngoài bốn trăm” mà mụ đã bỏ ra để mua nàng, muốn cách nào chàng sẽ “chiều” cách ấy. Tất nhiên là mụ Tú đành chọn cách thứ hai, dẫu rằng tiếc đứt từng khúc ruột. Vì người đã trốn rồi. Nếu gây sự, thì với cái tính “trăm ngàn đổ một trận cười như không”, chẳng khó khăn gì mà chàng Thúc không đưa được mụ đến cửa quan. Và tội ép con gái nhà lành làm đĩ là một tội rất nặng dưới thời phong kiến. Người phạm tội có thể bị tử hình. Chiến thắng mụ trùm lầu xanh, có được người đẹp trong tay, nhưng chưa kịp hưởng hạnh phúc thì sóng gió đã nổi lên.Biết chuyện, cha chàng đã “nổi giận bời bời”, chửi chàng một trận lút mặt. Còn với nàng, thì nhà tỷ phú lập tức “dạy cho má phấn lại về lầu xanh”. Thấy con trai lăn lộn kêu khóc,van xin và dọa sẽ...tự tử (bạc đen thôi có tiếc mình làm chi), thì cơn giận của cụ càng như đống lửa được đổ thêm dầu, cụ lập tức đến cửa quan tố cáo nàng (sốt gan, ông mới cáo quỳ cửa công).
Cứ như ngày nay, thì nàng Kiều đã vi phạm điều 182 BLHS năm 2015, có khung hình phạt cao nhất lên đến 3 năm tù vì đã sống chung với chàng Thúc như vợ chồng, dù biết chàng đã có vợ. Thời phong kiến, cả ở Tàu lẫn ở ta, xã hội đều cho phép đàn ông có nhiều vợ, cho phép đàn ông “đi sớm về khuya” chơi bời gái gú. Nhưng chế độ đó lại có một điều luật hết sức quái đản: đã làm đĩ thì phải chung thân làm đĩ, không được hoàn lương, không được lấy con nhà tử tế. Thúc ông tố cáo nàng chính là tố cáo cái tội đã làm gái lầu xanh mà vẫn đi quyến rũ con cụ, lấy con cụ làm chồng, dù sự thực thì ngược lại.
Do có đơn tố cáo của Thúc ông, nàng Kiều bị đóng gông giải đến công đường. Ta hãy xem diễn biến phiên tòa:
Với cái “mặt sắt đen sì (Bao công mặt cũng đen)”, viên quan xử án gợi cho ta cái cảm giác đó là một người rất vô tư, khách quan, chỉ biết có pháp luật. Vừa trông thấy bị cáo, y đã nổi giận (lập nghiêm trước hãy ra uy nặng lời). Y chửi chàng Thúc là kẻ lêu lổng chơi bời, mất nết hư thân, phá gia chi tử. Tiếp theo, y chửi nàng Kiều đã làm đĩ mà không trót đời, còn đi quyến rũ con nhà tử tế. Dứt tràng chửi bới, y tuyên án ngay, một bản án hết sức lạ lùng “:Một là cứ phép gia hình/ Một là lại cứ lầu xanh phó về”. Và khi thấy nàng thà chịu chết chứ nhất định không chấp nhận kiếp “người ngựa”, thì y lập tức ra lệnh chập 3 cây roi lại, đánh nàng đến chết (ba cây chập lại một cành mẫu đơn)
Trước cảnh nàng phải chịu thảm hình, chàng Thúc chỉ biết giở nghón võ...khóc, bất chấp đó là nơi công đường uy nghiêm ( khóc rằng oan khuất vì ta/ Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau). Nhưng thật không ngờ, lời kêu khóc của chàng lại làm cho phiên tòa chuyển sang một hướng khác. Nghe lời kêu khóc thảm thiết của chàng, viên quan có vẻ cảm động, liền gọi lại hỏi han. Thế là chàng được dịp dãi bày. Rằng trước khi nhận lời về sống cùng tôi, nàng đã đắn đo, căn vặn đủ điều, rằng vợ tôi, cha tôi có bao dung được nàng không ? Tôi có che chở được cho nàng không ? Nếu không có sự bao dung, che chở đó, thì việc nàng bị chết trước cửa công là điều chắc chắn. Lúc đó, vì quá yêu nàng, tôi đã nói phét rằng “đường xa chớ ngại Ngô Lào/ Trăm điều hãy cứ trôngvào một ta”. Nhưng nàng vẫn chưa tin, vì đã biết tôi là thằng vô dụng. Biết, nhưng nàng vẫn quyết dấn thân, thà bị vợ tôi, cha tôi dầy vò, thà chết trước công đường còn hơn là sống kiếp lầu xanh. Nào ngờ lời tiên đoán của nàng bây giờ đã trở thành sự thật...
Nên nhớ ngày xưa không có trường dạy chuyên về pháp luật. Quan chức các ngành đều xuất thân từ những kỳ thi thơ phú, văn chương. Viên quan xử án này cũng không ngoại lệ. Và chắc chắn y là người rất giỏi thơ phú. Vì thế khi nghe chàng Thúc kể rằng nàng tuy thân phận thấp hèn, nhưng cũng là người có học (Thưa rằng chút phận bọt bèo/ Theo đòi, vả cũng ít nhiều bút nghiên) thì y lập tức nổi máu văn chương. Gương “mặt sắt đen sỳ” của y lập tức dịu lại bởi một nụ cười khoái trá, y biến ngay công đường thành thi đàn, biến phiên tòa thành cuộc thử tài văn chương, y ra đề cho nàng làm thơ (cười rằng, đã thế thì nên/ mộc gia hãy thử một phen trình nghề). Hai câu trong ngoặc đơn ấy nghĩa là : nhà ngươi nói con điếm này là người có học à ? Thế thì bảo nó hãy làm bài thơ “mộc già” cho ta xem. Mộc già, tức là cái gông bằng gỗ. Là tội nhân, trên cổ đang mang gông, vừa bị roi vọt tơi bời, thế mà lại phải làm thơ về cái gông ? Cái đề bài mà viên quan ra để bắt nàng “trình nghề” mới tinh nghịch, mới tai ác làm sao. Chẳng cần nói, ta cũng hiểu tâm trạng của nàng lúc đó là thế nào rồi. Thi hào Nguyễn Du không ghi lại bài thơ “vịnh mộc già” để ngày nay chúng ta được thưởng thức tài thơ của nàng. Cụ chỉ cho biết nàng đã vung bút rất nhanh,và khi bài thơ vừa được trình lên, thì viên quan xử án lập tức xuýt xoa, nức nở (khen rằng, giá đáng Thịnh Đường/ tài này, sắc ấy nghìn vàng chưa cân). Thơ Đường là đỉnh cao nhất cuả nghệ thuật thi ca TrungQuốc. Thơ Đường thời nhà Đường đang thịnh lại là đỉnh cao của đỉnh cao. Thành ngữ có câu “văn mình, vợ người”, giới văn chương dễ gì ai đã chịu ai. Phải phục tài nhau lắm, phải trọng nhau lắm thì người ta mới chịu khen thơ của nhau là sánh ngang với thơ Đường thời đang thịnh. Ngoài nàng Kiều ra, tôi chỉ biết có hai người nữa đượcvua Tự Đức khen như thế. Đó là Tùng thiện vương Miên Thẩm và Tuy lý vương Miên Trinh, đều là hàng chú của vua (thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường : Thơ như Tùng Thiện vương, Tuy lý vương thì thời thịnh đường cũng chỉ đến thế là cùng. Lời khen ấy đã làm vinh dự cho hai người).Từ chỗ khen thơ, viên quan xử án chuyển sang khen người, y khen nàng là giai nhân (người đẹp), khen chàng Thúc là tài tử (chứ không phải là thằng lêu lổng chơi bời, hư thân mất nết, phá gia chi tử như lúc đầu y chửi chàng nữa), y khen hai người thật đẹp đôi (Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn). Bài thơ về cái gông gỗ đã làm phiên tòa xoay ngược 180 độ. Viên quan đã quẳng ráo từ pháp luật cho đến công đường, chức vụ vào một xó để đứng hẳnvề phía nàng, bảo vệ nàng. Nhưng muốn bảo vệ được nàng thì phải làm thế nào cho Thúc ông rút đơn. Thế là y quay sang dỗ dành nhà tỷ phú: Cô gái này thật tuyệt vời, đẹp người, đẹp nết, lại có tài năng xuất chúng. Nó đã ăn ở với con ông như vợ chồng, thì tức là con dâu ông rồi đấy. Thôi, ông hãy nguôi giận mà nhận cô ta làm con dâu đi, và lấy tình bố chồng mà cư xử với nó (dâu con trong đạo gia đình/ thôi thì dẹp nỗi bất bình...là xong). Tất nhiên là Thúc ông nghe. Không những vậy, viên quan xử án còn làm một việc “vô tiền khoáng hậu”, một việc làm mà nếu nhà vua biết được, thì y chắc chắn mất đầu: y xuất của công sắm lễ cưới, tự mình đứng làm chủ hôn cho nàng Kiều lấy chàng Thúc, khiến cho hàng phố được một phen lác mắt trước cảnh “kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao”.
II
Nếu như ở phiên tòa trên, nàng Kiều phải “tham gia tố tụng” với tư cách bị cáo, thì ở phiên tòa thứ hai này, nàng lại trở thành chánh án kiêm bị hại. Sau khi đượcTừ Hải cứu ra khỏi lầu xanh của họ Bạc, và sau khi đã “huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam”, Từ trở thành một vị đại vương với “mười vạn tinh bình” uy nghiêng trời đất, thì nàng trở thành một vị phu nhân nắm trong tay quyền sinh quyền sát. Căm hận những kẻ trước đây đã hành hạ, chà đạp vợ mình, Từ phái quân “đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Truy” bắt hết chúng, từ Bạc Hạnh, Bạc Bà, Tú Bà, Sở Khanh, Mã giám sinh cho đến Hoạn Thư...về giao cho vợ toàn quyền xét xử . Đây là một tòa án binh, án được thi hành ngay sau khi tuyên, phạm nhân không có quyền chống án. Phiên tòa được mở giữa quân doanh với sự uy nghiêm khủng khiếp, với khí thế ngút trời (bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân) mà cô tiểu thư nhà “họ Hoạn danh gia” được xác định là “chính danh thủ phạm”. Chẳng cần nhắc lại, chắc bạn đọc cũng nhớ, chính con người này, vì lòng ghen tuông (máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen) , đã tổ chức bắt cóc nàng về rồi đày đọa, tra tấn nàng bằng những thủ đoạn tàn ác, thâm độc, tinh vi như thế nào, khiến nàng căm hận tận xương tủy. Thế nên trước khi mụ được dẫn vào, nàng đã hạ lệnh cho quân lính rút sẵn gươm ra khỏi vỏ (dưới cờ, gươm tuốt nắp ra) để chỉ chờ một lời tuyên án là lập tức băm vằm mụ ra thành muôn mảnh. Tuy nhiên, nàng Kiều lúc đó không còn là nàng Kiều ngây thơ, trong trắng như trước khi “bán mình chuộc cha” nữa. Cuộc chìm nổi “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” đã biến nàng thành một người đàn bà bản lĩnh, dầy dạn, như chính nàng đã nói với chàng Thúc trước đó, rằng “phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”. Trước lúc ra uy, trước lúc giáng sấm sét xuống đầu kẻ tử thù, nàng đủ bình tĩnh để “vờn” mụ như mèo vờn chuột (thoạt trông, nàng đã chào thưa/ tiểu thư cũng có bây giờ đến đây). Lời “chào thưa” ngọt ngào trên một rừng gươm sáng quắc khiến cho mụ Hoạn “hồn lạc phách xiêu”. Nhưng chính vào lúc này, ta lại thấy HoạnThư không chỉ là người đàn bà có máu ghen và hành động ghen tuông đến múc trở thành...kinh điển, mà còn là một người đàn bà đầy bản lĩnh. Mụ trấn tĩnh rất nhanh, và “ khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca”. Chỉ “khấu đầu” thôi chứ không quỳ lạy như nghi lễ hồi ấy bắt buộc. Chỉ riêng điều này thôi, cũng đủ thấy bản lĩnh của mụ Hoạn rồi. Xin bạn đọc chớ ngại dài dòng, cho tôi được dẫn hết lời “kêu ca”của mụ. “rằng tôi chút phận đàn bà/ ghen tuông, thì cũng người ta thường tình/ nghĩ khi cho các viết kinh/với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo/ lòng riêng, riêng những kính yêu/ chồng chung, đã dễ ai chiều cho ai...”.
Lời kêu ca, cũng chính là lời “gỡ tội” trước tòa của mụ Hoạn, có thể nói là tuyệt hảo. Các luật sư giỏi nhất của ta ngày nay chắc cũng chỉ đạt đến trình độ đó là cùng. Những chuyện độc ác của mình ngày nào bị mụ lấp liếm đi, hạ thấp xuống thành chuyện”thường tình” của “đàn bà” (đã là đàn bà, thì còn ai chấp nhặt nữa?). Nhưng những lời kể ơn thì lại được nhấn mạnh: Tôi hành hạ bà thật đấy,nhưng khi bà “rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không “, tức bà muốn đi tu, thì tôi không ngần ngại cho bà ra gác Quan Âm nhà tôi “có cây trăm thước, có hoa bốn mùa/ có cổ thụ, có sơn hồ” để bà tu hành. Tu mà không trót, bà đã lấy trộm đồ vàng bạc trong gác Quan Âm nhà tôi rồi trốn đi. Biết vậy, nhưng tôi vẫn không theo đuổi, dù với thế lực của tôi lúc đó,việc truy bắt bà nào có khó gì. Luật pháp phong kiến quy định , nếu nô tài trốn đi mà chủ bắt được, thì chủ toàn quyền xử lý. Bắt được bà, tôi có thể dùng “gia pháp” để trị bà thật thảm khốc rồi đưa bà lên quan, dùng “quốc pháp” để trị bà về tội trộm cắp. Nếu tôi làm thế, liệu bà có được như ngày nay không ? Tôi hành hạ bà, nhưng tôi vẫn rất biết tài bà (hãy nhớ lại, Hoạn Thư đã từng ca ngợi nàng Kiều với chồng mình là Thúc Sinh rằng “ví chăng có số giầu sang/ giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên/ bể trần chìm nổi thuyền quyên/ hữu tài, thương nỗi vô duyên, lạ đời”. Đó có thể nói là những lời đầy thiện chí). Tôi hiểu bà, trọng tài bà là một chuyện, nhưng bà chia xẻ chồng cuả tôi (chồng chung) lại là chuyện khác. Chuyện đó, tôi đâu có thể nhường bà. Tôi phải phản ứng để bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Bản “gỡ tội” của mụ Hoạn đã đẩy chánh án Vương ThúyKiều vào thế vô cùng lúng túng. Vì thế, dù căm hận mụ đầy lòng, nhưng nàng vẫn buộc phải cất tiếng khen là “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”. Bởi thứ nhất, những điều mụ nói đều là sự thật. Sự thật là điều mà bất cứ phiên tòa nào, dù ở chế độ nào, cũng phải hướng đến, cũng phải chứng minh để làm sáng tỏ. Thứ hai, mụ đã nói đến chuyện “thường tình” rồi, thì ở vị thế một phu nhân, lẽ nào nàng còn chấp nhặt ? Nếu lúc đó nàng vẫn quyết ra tay, sẽ chẳng ai dám nói gì. Nhưng cái tiếng “nhỏ nhen” chắc sẽ bám theo nàng mãi mãi (làm ra, mang tiếng con người nhỏ nhen). Không còn cách nào khác, nàng đành phải “truyền quân, lệnh xuống trướng tiền, tha ngay”.
Ở phiên tòa thứ nhất,nàng Kiều đã thắngvì tình. Nhưng trong phiên tòa thứ hai này,nàng lại thua về lý./.
Nguồn: FB nguyen huu su