/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TIN TỨC

Giải thưởng văn học Đông Nam Á 2012

Ông sinh ngày 21-9-1949 tại Hải Phòng. Sau khi học xong phổ thông, ông gia nhập quân đội, chiến đấu trên mặt trận Tây Nguyên.
Giải thưởng văn học Đông Nam Á 2012

 

Nhà văn BRUNEI PENGIRAN HAJI MAHMUD BIN PENGIRAN DAMIT

 

Mahmudamit là bút danh của Pengiran Haji Mahmud bin Pengiran Damit. Ông sinh ngày 20-5-1942 tại thị trấn Kampong Labu Estet, tỉnh Temburong, Vương quốc Brunei Darussalam. Được giáo dục theo tiêu chuẩn Anh và Mã Lai, ông tốt nghiệp cử nhân năm 1988, và thạc sĩ sư phạm năm 1993, tại Đại học Pertanian, Malaysia.

Ông giảng dạy tại Đại học tổng hợp Brunei Darussalam (UBD) từ 8-1988 đến nay, sáng tác thơ, truyện ngắn. Tác phẩm xuất hiện nhiều trên các báo, tạp chí và các hợp tuyển. Ông đã xuất bản riêng hai tập thơ có tên là Dwimadah Ekawadah (2008) và Sepi di Tengah Kota (2010), tại Nhà xuất bản Ngôn ngữ và Văn học Brunei. Ngoài ra, ông còn viết bài cho các hội thảo, sự kiện văn hóa, và phát biểu tại các trại viết, liên hoan văn học khắp châu á.

Nữ nhà văn INDONESIA OKA RUSMINI

Sống tại thị trấn Denpasar, tỉnh Bali, nữ nhà văn này từng nhận được nhiều giải thưởng văn học cao quý của quốc gia, trong đó có giải của Trung tâm ngôn ngữ Bộ Giáo dục Indonesia. Bà tham dự nhiều sự kiện văn học trong nước và quốc tế, ví dụ Liên hoan văn học Winternachten tại Hague và Amsterdam, Hà Lan, là khách mời của Đại học Hamburg, Đức. Các tác phẩm của Oka Rusmini gồm: Monolog Pohon (thơ, 1997), Tarian Bumi (tiểu thuyết, 2000), Sagra (truyện ngắn, 2001), Kenanga (tiểu thuyết, 2003), Patiwangi (thơ, 2003), Warna Kita (thơ, 2007), Pandora (thơ, 2008), Tempurung (tiểu thuyết, 2010) và Akar Pule (truyện ngắn).

Tiểu thuyết Tarian Bumi đã được dịch sang tiếng Đức dưới cái tên Erdentanz.

Nhà văn Lào Duangxay Luangphasy

Sinh ngày 15-7-1944 tại thị trấn Bau Thatluang, Thủ đô Viên Chăn, ông tốt nghiệp cao đẳng năm 1965 tại Hà Nội. Vào tuổi 16, Luangphasy gia nhập Ưuân giải phóng nhân dân Lào. Năm 1960 cũng là thời điểm Luangphasy bắt đầu sự nghiệp văn học. Tác phẩm của ông viết về lịch sử nước Lào đã được tặng thưởng bởi Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào năm 1994. Một trong nhữnng yiểu thuyết của ông đã nhận giải thưởng sông Mê Kông năm 2009 tại Cămpuchia. Gần đây, năm 2010, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Quốc gia. từ 1960 đến 2012, có tất cả 115 tác phẩm văn học của ông được xuất bản. Luangphasy nhận giải Văn học ASEAN lần này với tiểu thuyết Sai Leuad Dio Kan (Chung dòng máu), viết về một gia đình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trải suốt 30 năm.

Nhà văn MALAYSIA ISMAIL KASSAN

Sinh tại tỉnh Johor Bahru, ngày 26-9-1954, ISMAIL KASSAN, hay tên đầy đủ là Haji Ismail bin Kassan, đã nhận được nền giáo dục kỹ càng tại thành phố Johor và nước Singapore láng giềng, trước khi vào khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia Malaysia (UKM) khóa 1976-1978. Tuy nhiên, sự gắn bó cuộc đời với văn chương của ông bắt đầu từ năm 1972 với cuốn sách tự truyện có tên Fajar Merah di Teluk Ketapang năm 1972. Từ đó về sau, Ismail đã viết hơn 10 vở kịch, 36 đầu sách trong rất nhiều thể loại, đặc biệt là sân khấu. Ông thuộc số những nhà văn mắn giải nhất Malaysia, với những vở kịch nổi tiếng như Pelayaran Inderaputera 2, Menanti Puteri Hijau, Gelanggang Tuk Wali, Jambatan Merah, và 8 cuốn sách, trong đó có những cuốn được dùng làm sách giáo khoa trong nhà trường Malaysia và Singapore từ năm 2007. Ông thường được mời viết nhận xét cho những cuộc thi sáng tác kịch trong và ngoài nước, trực tiếp điều hành nhiều chục trại sáng tác kịch bản, và là giảng viên uy tín trong nhiều trường đại học có chuyên ngành sân khấu suốt từ năm 2004 đến nay. Ông là Chủ tịch Hội đồng Sân khấu quốc gia Malaysia, thành viên Ban Cố vấn của các nhà hát Istana Budaya và Kuala Lumpur.

 

 

Nhà văn PHILIPPINES CHARLSON ONG ONG

I graduated from the University of the Philippines in 1981 with a degree in Psychology. I have been a writer in Residence at the National University in Singapore, visiting fellow to Japan of the Japan Foundation, PEN delegate to PEN conferences in Moscow, and Cheongju, South Korea (2012), fellow to the International Writing Program, Iowa (2002). I have published 3 collections of short fiction and three novels. My novel “Embarrassment of Riches” won the Philippine centennial prize in 1998. “Banyaga and Blue Angel” and “White Shadow” both won the National Book Award for the Novel in English. I teach Creative Writing at the University of the Philippines.

 

 

Nữ nhà văn SINGAPORE SUCHEN CHRISTINE LIM

Sinh ra tại Malaysia và học tập tại các bang Penang and Kedah, lúc 14 tuổi, bà di cư sang Singapore cùng gia đình và tiếp tục học cơ sở trẻ em Thiên chúa Katong, rồi sau đó ở trường CHIJ, đường Victoria. Bà tu nghiệp ngành văn học tại Đại học quốc gia Singapore, tốt nghiệp bằng thạc sĩ song ngữ. Được tuyển dụng vào Bộ giáo dục, bà làm việc tại đó một khoảng thời gian khá lâu như một chuyên gia giáo vụ.

 

Tiểu thuyết đầu tay của Lim có tên là Rice Bowl (Bát cơm) xuất bản năm 1984, và bà cũng là đồng tác giả của vở kịch ngắn The Amah: A Portrait In Black And White (Amah: Một chân dung đen trắng) ra đời năm 1986. Tiểu thuyết thứ hai của Lim, Gift from the Gods (Quà tặng của các vị Chúa- 1990) được đề cử cho giải thưởng của Hội đồng phát triển sách quốc gia năm 1992. Cùng năm đó, bà giành giải Văn học Singapore đầu tiên cho tiểu thuyết thứ ba có tên Fistful Of Colours (Cả vốc sắc màu- 1992). Tiểu thuyết thứ tư A Bit Of Earth (Một mẩu đất- 2000) và tập truyện ngắn có cái tên khá dài The Lies that Build a Marriage: Stories of the Unsung, Unsaid and Uncelebrated in Singapore (Lời dối tạo nên một đám cưới: Chuyện về những điều không thể nói, không thể hát, và không thể kỷ niệm ở Singapore- 2007), đều lọt vào chung khảo Giải thưởng văn học Singaporre các năm 2004 vaf 2008. Cuốn ký sự Hua Song: Stories of the Chinese Diaspora (Hua Song: Chuyện về sự ly tán của người Hoa) xuất bản năm 2005 cũng gây được nhiều tiếng vang.

Lim được trao học bổng Fullbright năm 1996 để tham dự trại viết thuộc Đại học Iowa, để từ đó được công nhận là nhà văn quốc tế thường trực(có quyền tham dự bất cứ dịp nào) năm 2000. Quyền đó cũng mở rộng cho bà tới các cơ sở ở nhiều nước như Trung tâm NICA tại Yangon, Miến Điện; Đại học Tây úc; Trung tâm viết văn Moniack Mhor Scottland; Trung tâm văn hóa Toji, Hàn Quốc; và Đại học Manila, Philippines. Bà cũng là khách mời danh dự tại Đại học Công nghệ Nam Dương, Singapore năm 2011.

 

 

Nhà văn THÁI LAN WIPAS SRITHONG

Sinh ngày 6-9-1970 tại tỉnh Phatthalung, miền nam Thái Lan, ông chuyển đến Bangkok với gia đình từ thời niên thiếu. Wipas học trung học cơ sở tại trường Sarawittaya, tuy nhiên phải bỏ học giữa chừng để giúp gia đình buôn bán làm ăn. Trong khi phụ giúp bố mẹ, ông tự học và được tuyển vào khoa Y Ramathibodi, thuộc Đại học Mahidol. Sau 10 năm tu luyện, ông đã một lần nữa quyết định chuyển niềm đam mê sang lĩnh vực nghệ thuật, bao gồm làm phim, nghệ thuật thị giác, và viết văn.

Wipas đã xuất bản hai tập truyện ngắn: Maow Kao Chiwit (Mèo chín kiếp- 2002), và Wela Luang Phan Umong (Thời gian xuyên hầm- 2008), một tập thơ bằng tiếng Anh Graffiti (Nghệ thuật thị giác- 2002), và một tập thơ sắp đặt Treung Ta Konlabut- 2011).

Tiểu thuyết đầu tiên của ông Kon Krae ‘Dwarf’ (vừa xuất bản đầu năm 2012) đã ngay lập tức được trao giải thưởng Văn học Đông Nam á lần này

Wipas cưới vợ là Natalie Schneider người Australia. Họ hiện sống tại Bangkok, kinh doanh dịch thuật và nghiên cứu. Hiện ông đang chuẩn bị cho ra mắt tiểu thuyết mới Mah Hua Kon (Chó đầu người).

Nhà văn VIỆT NAM TRUNG TRUNG ĐỈNH

Ông sinh ngày 21-9-1949 tại Hải Phòng. Sau khi học xong phổ thông, ông gia nhập quân đội, chiến đấu trên mặt trận Tây Nguyên. Sau chiến tranh, ông học trường Đại học viết văn Nguyễn Du. Rồi ông về làm biên tập tại Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hiện nay, ông là Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn, đồng thời là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.

Tác phẩm mà nhờ đó ông đoạt giải ASEAN lần này là tiểu thuyết Lính trận.

P.V

theo Bangkokpost.com

Nguồn: Vănnghệ