/Vén mây muốn bước lên tột đỉnh. Đoái lại dì trăng lẽo đẽo theo/ Thơ Trịnh Hoài Đức.

VIDEO

HỖ TRỢ

LỊCH

LIÊN KẾT

Thơ

CHÙM THƠ CỦA BẢNG CÕI (ĐÀO CÔNG CHÍNH)

/Muốn hỏi trượng phu sao đại dụng. Thân làm rường cột ấy là nên./ Thơ DCC

CHÙM THƠ CỦA BẢNG CÕI (ĐÀO CÔNG CHÍNH)
.

DANH Y BẢNG CÕI (ĐÀO CÔNG CHÍNH)

(1639 – 1709)

 .

       Đào Công Chính xuất thân từ một gia đình nho học lâu đời tại làng Cõi (Hội Am, Cao minh, Vĩnh Bảo). Thuở nhỏ thông minh, ham học và được coi là thần đồng. Năm 1651 đậu Hương Cống, năm 1661 đậu Bảng Nhãn. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều Lê - Trịnh: Phó sứ, Hình bộ Hữu thị lang, Lại bộ Hữu thị lang, Quang tiến Thân lộc đại phu, Bồi tụng, Phủ doãn Phụng Thiên... Ngoài ra ông còn là nhà thơ, nhà ngoại giao, nhà sử học, đặc biệt là danh Y nổi tiếng được người đời tôn vinh: "Đức thánh thuốc nam, Hội Am - Vĩnh Lại". Đào Công Chính là người có công lớn cùng với Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác trong việc xây dựng nền y học cổ truyền dân tộc Việt Nam, tạo thế "kiềng ba chân" vững chắc cho nền đông y học. Ông mất ngày 17/03 (Âm lịch) để lại cho đời những công trình khoa học xuất sắc của một tác gia lớn nửa cuối thế kỷ XVII.
                                                                                              Nhà văn Ngọc Tô

.

THƠ ĐÀO CÔNG CHÍNH

 

       89 bài thơ trong tập “Bắc sứ thi tập - 北使詩集” thì phần lớn là của Đào Công Chính còn được lưu giữ và phát hành. Chúng tôi xin giới thiệu một số bài tiêu biểu trong thời gian ông đi sứ nhà Thanh.

 1-

BÀI THƠ CÂY TÙNG MÙA ĐÔNG

冬松詩

四時皆美盡稱長, 
愛爾堅貞性獨剛。 
地上生成材冠楚, 
天中特立節凌霜。 
北風琴鼓群聲興, 
東嶺名高萬古香。 
借問丈夫何大用, 
於身為棟與為梁。


ĐÔNG TÙNG THI

.
Tứ thời giai mỹ tận xưng trường, 

Ái nhĩ kiên trinh tính độc cương. 
Địa thượng sinh thành tài quán sở, 
Thiên trung đặc lập tiết lăng sương. 
Bắc phong cầm cổ quần thanh hứng, 
Đông lĩnh danh cao vạn cổ hương. 
Tá vấn trượng phu hà đại dụng, 
Ư thân vi đống dữ vi lương.

.

Dịch nghĩa

Bốn mùa tươi tốt ai cũng khen,
Yêu ngươi riêng giữ khí tiết bền. 
Mọc từ đất lên, tài năng trội nhất loài gỗ,
Sừng sững giữa trời, ngạo nghễ gió sương.
Gió bắc thổi, reo lên như muôn tiếng đàn,
Tên nổi ở non đông, hương thơm muôn thuở.
Muốn hỏi bậc trượng phu có được đại dụng gì,
Đem thân để làm rường và làm cột.

.
Bản dịch của Lê Xuân Khải

Bốn mùa tươi tốt thảy đều khen,
Riêng vững yêu ngươi khí tiết bền.
Quán sở hiên ngang từ đất mọc,
Khinh sương ngạo nghễ giữa trời lên.
Đàn reo gió bấc muôn âm vọng,
Thơm nổi non Đông vạn cổ truyền.
Muốn hỏi trượng phu sao đại dụng, 
Thân làm rường cột ấy là nên.
.

Chú thích:

*Quán sở: Nghĩa là quán quân, đứng đầu các loại gỗ


@

2- 

VỊNH THÁI BÌNH PHONG CẢNH THI 詠太平風景詩 

 

  








 

Vịnh Thái Bình phong cảnh thi

Thiên triều cước đạp tổng xuân sinh,
Tài đáo ư kim đổ Thái Bình.
Thượng giải vũ sâm phô Hán thị,
Hạ nguyên phái dẫn nhiễu Kim thành.
Chính ưu tích mỹ Giang bài tiếm,
Trị tối kim xưng Mã chính danh.
Ta cảnh đãi nhân đồng trí hảo,
Vãng trường hồi ngoạn khoái đa tình.

 .

Dịch nghĩa

Đặt chân đến đất thiên triều, nơi nào cũng đẹp
Mãi đến nay mới được ngắm cảnh Thái Bình
Bên trên là cảnh chợ Hán, nhà cửa san sát
Phía dưới nhánh sông chảy lượn quanh thành Vàng
Chính sách tốt, ngày xưa Trường Giang bồi đắp
Quản lý giỏi, nay đúng với tên Mã
Cảnh đợi người cùng làm nên vẻ đẹp
Quanh quẩn ngắm mãi, có nhiều tình cảnh vui thú.
.

BẢN DỊCH CỦA LÊ XUÂN KHẢI

 Thiên triều chân đặt thảy xuân sinh
Nay mới được xem cảnh Thái Bình
Chợ Hán bờ trên vui tấp nập
Thành Kim nhánh dưới uốn bao quanh
Chính hay xưa đẹp Giang bồi đắp
Trị tốt nay xưng Mã đúng danh
Cảnh ấy đợi người chung góp đẹp
Quẩn quanh ngắm mãi thú bao tình.
.

Chú thích:

*Thái Bình: Tên phủ thuộc tỉnh Quảng Tây, nay thuộc huyện Sùng Tả - Quảng Tây (Trung tâm là thành phố Bằng Tường)

 

**Câu 5 ý nói qua các triều đại đã hình thành nền văn minh lúa nước dọc vùng Trường Giang

 

***Câu 6 có lẽ nhắc tới vùng đô hội bên hữu ngạn Trường Giang, nay là Mã Yên Sơn

3-

Phiên âm:

LƯU DÂN TỰ THÁN THI

Thử nhân ngã quốc Hoa Phong nhân, bỉ bị kiếp lưu, mẫu tử cơ khát đãi thậm. Nhưng tác thi khất hoàn, nhưng tống bỉ mẫu tử hoàn quốc.

 

Vương hữu Nghiêu quân đức trạch tuyên,

Nhẫn linh tàn mẫu chí điên liên.

Y tư già thể vô ma bố,

Thực dục sung nhi khiếm chúc chiên.

Uất uất dư niên thê Bắc địa,

Huyền huyền thôn niệm tại Nam thiên.

Tứ hồi hạnh kiến gia phu tử,

Chi đức chi công vĩnh vạn niên.

 .

Dịch nghĩa: 

Vương có vua Nghiêu đức trạch ban,

Nỡ làm bà mẹ phải lầm than.

Áo muốn che thân không tấc vải,

Ăn mong lưng bụng chẳng thìa cơm.

Năm đói rầu rầ lưu đất Bắc,

Chút lòng đau đáu ngóng trời Nam.

Cho về mau gặp chồng con sớm,

Đức ấy, công kia mãi vạn năm.

 .

Dịch thơ:

Vua có vua Nghiêu đức trạch đồn,

Nỡ sao để mẹ héo con mòn.

Áo đay không có che thân mẫu,

Bát cháo chẳng còn ấm bụng con.

Đất bắc dãi dầu đời đói khổ,

Trời nam đau đáu nỗi cô đơn.

Cho về mong gặp chồng con lại,

Đức ấy công kia mãi mãi còn.

Chú thích:

Hoa Phong: Nay là vùng đất thuộc Cát Hải – Hải Phòng.
.

Nguồn: Tổng tập Đào Công Chính, NXB Thông tấn, 2006 (Ngọc Tô sưu tầm và tuyển chọn)