/Ví bằng không lấy được nhau. Làm chi còn có kiếp sau mà chờ/. Thơ Trần Mạnh Hảo

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

THƠ VĂN BẠN BÈ

NGƯỜI ANH TRAI YÊU QUÝ CỦA TÔI           

Anh Sắt sinh năm 1934. Tuổi Giáp Tuất. Anh hơn tôi, (Kim Chuông) những mười ba “Cánh lá vàng thu.”

NGƯỜI ANH TRAI YÊU QUÝ CỦA TÔI                                                   

          (Trích từ Tập  “TỰ TRUYỆN : LÀNG THẮNG – NĂM THÁNG ẤY VÀ TÔI”  -  CỦA KIM CHUÔNG)

.

                   … Sau Chị cả Nguyễn Thị Ngải, tuổi Mậu Thìn, 1928. Rồi,  anh Nguyễn Văn Toản, tuổi Tân Mùi 1931. Người anh trai thứ hai yêu quý của tôi tên là Nguyễn Bá Sắt.

                  Anh Sắt sinh năm 1934. Tuổi Giáp Tuất. Anh hơn tôi, (Kim Chuông) những mười ba “Cánh lá vàng thu.” Khi anh Sắt xung vào thiếu sinh quân, tôi mới bốn, năm tuổi gì đó.

                   Anh Sắt khá đẹp trai. Mặt vuông. Miệng rộng. Dáng vẻ của người mang sự sang trọng và quyền lực.

                  Anh Sắt có nước da trắng, lúc nào nom cũng hồng hào, quyến rũ. Dáng của kẻ đào hoa, dễ mê đắm xung quanh.

                 Về ngôn luận, Nguyễn Bá Sắt đặc biệt rất có duyên. Ông trò chuyện như chuyển tải, dẫn đưa người nghe vào mê cung những ngữ ngôn, những kiến văn về kinh nghĩa. Về tình đời. Về cư xử. Về đạo đức cương thường, về lễ nghi trên dưới. Nó có từ sự ảnh hưởng rộng sâu của Đạo đức Khổng Tử mà ông được học và đọc, với :  “cái Trời sinh ra ông” – Một người con của “Đệ Nhất Hiếu Đễ.”

                  Những lần ngồi nghe ông trò chuyện, tôi đã nghĩ, ông đang nói ngôn ngữ gì lạ vậy. Ông “moi” ngôn ngữ ấy ở đâu ra kia, mà lạ vậy ? Lời ông như “Thánh nhân,” sao mà Hay. Mà hết điều, hết nhẽ. Mà dễ hiểu. Mà chả ai không ngộ ra, không mở mắt, không há mồm, uống thấm cái lời ấy vào lòng.

                   Ông Sắt người “hơi cổ,” sống hiền lành, được nhiều người quý yêu, nể trọng. Ông có tài văn chương và nhiều tài vặt như : Chữ viết đẹp. Chữ ông viết nom không khác gì chữ của bản in ty-pô trên giấy. Trong cuốn sổ tay ghi chép, ông làm nhiều thơ về thế sự, tình yêu. Tôi nhớ nhất mấy câu ông viết như lời tự bạch và tự vấn với mình, rằng :  “Ai đi qua giữa vườn hồng/  Mà không hề chọn được bông hoa nào/  Phải vì núi đứng chưa cao/  Hay vì cả gió trăng vào đám mây/ Những lần về phép ít ngày/  Mẹ tôi người vẫn thường hay đón đầu/  Bao giờ Mẹ cưới được dâu ….”

                    Rồi, bài thơ “Dở dang.” Bài thơ ngẫu hứng trước một bông hồng đẹp. Trước sự gặp gỡ nào đó trong đời lính, tuổi trẻ. Trong cái đau, cái xót thương của một thời mà tuổi ông gánh chịu. Khi đi qua chiến tranh. Khi ông biết câu thơ của Vương Hàn, Đời Đường rằng, “Cổ lai chinh chiến, kỷ nhân hồi.“ (Nghĩa, xưa nay, những người lính trận mạc kia,  mấy ai ra đi rồi có ngày được trở về bản quán?” )

 

                  Câu thơ ông viết thật đau là :  

                  Ai đem giăng sợi tơ tình

                  Đường xa mờ mịt bóng hình chơi vơi

                 Chiến tranh khắp nẻo phương trời

                 Biết ngày mai. Biết ta rồi,  ra sao  ?

           

 

                Thôi đành tắt một vì sao

                Ta mang Tổ quốc đi vào chiến chinh

                Ta mang theo trái tim mình

                 Một Bông hoa

                                         Một bóng hình … vu vơ …

 

       

                   Rời làng Thắng từ 194 – 1950 …, khi mười lăm, mười sáu tuổi, ông Sắt đã là một “Thiếu Sinh quân.” Một người lính đi trong thời trận mạc. Ông ở đơn vị nào? Quân đoàn, quân khu nào, không còn tài liệu nào ghi rõ. Theo Hồi ký ông viết, đoạn còn đọc được. Vào Mồng 1 tháng 5/ năm 1952, ông được Quân đội cử sang Trung Quốc dự Lớp đào tạo chỉ huy pháo binh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở thành phố Nam Ninh.

              Đang học tập trên đất nước bạn, năm 1954, chiến dịch Điện Biên phủ mở ra, ông được điều về chiến đấu trên Đèo Cò Nòi và nhiều chiến địa ác liệt khác ở miền Tây Bắc, cho đến khi Điện Biên Phủ được hoàn toàn giải phóng.

                    Sinh năm 1934. Ngày Mồng 7/5/1954, Giáp Ngọ. Năm ấy, ông Sắt mới hai mươi tuổi. Tuổi thanh niên trẻ trung. Tuổi tràn trề sức sống.

                   Hai mươi tuổi, (Thì ra) ngày ấy, ông Sắt đã viết rất hay hàng trăm trang văn xuôi viết tay, những trang Ghi chép về “Những ngày trên đất nước Trung Hoa.” Ông còn cuốn Tiểu thuyết mang tên “Trên Đèo Cò Nòi,” viết bằng nhiều loại giấy khác nhau, cả những màu mực khác nhau nữa. Cuốn Tiểu thuyết viết dở khi lần thứ hai, ông tái ngũ, lên đường vào Nam, đánh Mỹ. Những trang bản thảo này, bố tôi một thời cất giữ. Rồi, tôi đi lính. Các em thoát ly, đi học, đi làm. Rồi bố mất. Mẹ già. Lâu ngày quá, nhà gianh, mưa giột, đã phá đi làm lại. Khi tôi có ý thức tìm lại thì chẳng còn kiếm được dấu tích gì, thật tiếc. Tôi biết, trời phú cho ông anh trai tôi vừa đẹp, vừa có tài văn chương, nhưng “con đường Văn chương,” ông mơ ước, không thành. Trong những lần tâm sự, tôi biết ông rất mê “Giấc mông văn chương” và mê một cuộc đời nghệ sĩ.

                    Ở thời ông, lứa tuổi ông. Những người sống trong thời “Tây học.” Các ông có kiến văn thật khác lạ. Thật đáng nể phục ở những tầng văn hóa. Ở lối sống và lý tưởng đời người.

 

                   Khi vào lính, (Tháng Giêng, năm 1965) tôi trở thành Nhà báo trẻ ở một tờ Báo Quân khu, ông rất vui, mến phục và thường giành cho tôi một tình cảm quý yêu đặc biệt.

                 Thời ở lính, có lần, ông đã mượn xe đạp lai tôi qua Quý Cao, Tứ Kỳ, qua Thị xã Hải Dương, về đơn vị đang trú quân ở Nghĩa Phú, Cẩm Giàng, sau ba ngày nghỉ phép. Đây là kỷ niệm tôi có với anh và tôi cũng nhớ nhất trong ít ỏi những kỷ niệm của cặp anh em trai cùng sinh ra và lớn lên trong gia đình thi thư, lễ nghĩa.  

                

                  Ông Sắt đi bộ đội 1948 - 1949. Cuối năm 1960, ông được phép chuyển ngành về làm công tác tổ chức ở nhà máy trên thành phố Cảng, Hải Phòng. Nhưng, chán cuộc đời bom đạn. Thương bố mẹ già, em nhỏ ở quê. Phần nữa, vốn mang trong mình trái tim yêu say tự do, nhiều phẩm chất lãng mạn của một nghệ sĩ. Ông xin về phục viên sống với bố mẹ già, em nhỏ.

              Tôi được sống sum vầy bên cha mẹ, bên anh trai Nguyễn Bá Sắt cùng chị Vy, các em Khuông, Thép mấy năm trời dưới một mái nhà . Tôi thương ông Sắt một số phận mà ông trời bắt ông gánh chịu, kiểu tương đố giữa “Mệnh – Tài – Duyên – Phận.”

                 Về đạo hiếu, ông Sắt thương mẹ cha mà ít ai trên đời này có được. Ông nhận tất cả công việc nặng nhọc nhất về mình. Ông dè sẻn, nhường nhịn trong ăn uống. Ông ăn rất chậm. Không hiểu, ông nhai kiểu gì, mà ăn chậm đến lạ lùng. Chẳng  hiểu được nữa, những ngày theo mặt trận đánh giặc, ông ăn uống thế nào? Có được no không? Ai hiểu được mà lo cho ông khi đội quân chiến đấu lúc nào cũng ào ào, cũng phải nhanh như mây bay, gió cuốn.

                  Có lẽ, có lần, ông Sắt bảo tôi. “Ở đời, thế đấy. Anh cũng là người đào hoa. Người được kẻ yêu, người quý. Nhưng, có “Duyên đấy mà chẳng có Tình.”

                 Ồ. Hơn mười tuổi đầu. Rồi khi đọc thuộc Truyện Kiều của Nguyễn Du viết. Rồi, từ chuyện ông Sắt, tôi mới ngộ ra câu thơ : “Duyên” kia có phụ chi “Tình”/   Mà đem bẻ gánh chung tình làm hai…” Là vậy.

                 “Trời.” Cụ Nguyễn Du sâu sắc quá. Tinh tường quá. Mới 55 tuổi (1765 – 1820) Thiên tài là vậy. Cụ Nguyễn chẻ ra từng khái niệm, thuật ngữ mà phán xét sự đời. Đang lớn, bỡ ngỡ bước vào mê cung văn chương, tôi mới chợt hiểu rằng, “Cái Tình, cái Duyên” thật khác xa nhau. Như ông Sắt, anh trai tôi, thật đẹp trai, phong tư, nho nhã. Ông đi đâu cũng có người mê say, săn đón. Ông ở đâu cũng có người dốc hết tâm can tin yêu, kết mối thâm tình. Bạn trai kết thân với ông như “bồ bịch.” Nhiều gái đẹp theo đuổi, tìm đến tận nhà ve vãn, “thả thính.” “Cái Duyên” là thế. Nhưng. Với “Tình.” Ông là kẻ đau khổ, trắng tay. Ông có tới bảy lần “hỏi và cưới” vợ. Nhưng cứ bập vào “Tình” thì “Tình” bay mất.

                 Ví như, có lần, yêu cô Miễu ở Áng Dương, khi ông đang là người lính trong quân ngũ. Hai gia đình đều là Nho gia, đều “môn đăng hộ đối.” Đều đem lòng quý trọng nhau từ thuở kết giao, nguyện gả con,  gả cái cho nhau. Gia đình là vậy. Đôi lứa vâng lời mẹ cha cũng say mê, tâm đầu ý hợp, ngỡ chẳng còn gì đẹp hơn thế nữa.

                  Buổi dẫn lễ, (năm 1959) tôi cũng theo anh Sắt đến Áng Dương. Tối hôm ấy, tôi bỗng gặp trong căn phòng xép, hai người thân thiết ôm nhau, hôn nhau, trao nhẫn cho nhau. Nhưng, sáng hôm sau, nhà trai đi đón dâu, thì chuyện lạ xảy ra trên đời dường như không mấy khi có. Đấy là, khi Đoàn nhà trai vừa bước chân vào đến đầu làng Áng Dương, một ông già (bố đẻ cô Miễu) đầu đội khăn xếp đen, quỳ đập đầu xuống đất, vái lạy nhà trai như tế sao, mà thưa rằng : “Xin Nhà trai, các ông các bà tha thứ cho tội lỗi lớn này. Xin nhà trai thông cảm, mà quay về. Bởi, từ đêm qua, con dâu (Cô Miễu, con gái ông) đã bỏ nhà trốn đi đâu mất. 

                     Ôi. Thế là đám cưới tan. Sau này, chuyện vỡ ra, mới biết,  đêm ấy, cô Miễu đã vội khăn gói trốn nhà lên miền rừng tá túc, ở nhờ nhà một người quen, để bốn tháng sau thì cô Miễu sinh đẻ. Bởi, trước đó, cô Miễu đã dấu mẹ cha, tằng tịu, ăn nằm với một người cậu họ trong làng, và đã có thai 4 tháng trong bụng. 

                       Chuyện thật hi hữu. Đau, nhưng cũng may cho ông Sắt. Cô Miễu bỏ trốn, ông không bị gánh cái hậu quả phức tạp kia quàng đổ lên mình. Có điều, trước khi tổ chức lễ cưới, bố tôi đi gieo quẻ ” gặp đôi câu trong “Linh tiêm” linh ứng, phán rằng : “Lưỡng gia môn hộ các tương đương/   Bất thị nhân duyên mạc hiệu đường…”

                     Ôi. Vậy có Ông Trời thật, đó sao? Hai gia đình thì tương giao, đối xứng đấy. Nhưng đây không phải nhân duyên, chớ có tìm đường mà đến với nhau, người nhé.”

                     Lại nữa, trong “Tử vi” của anh Sắt, anh bảo tôi, cung “thê thiếp” có câu : “Mã – Triệt – Tuần … lâm vào “Thê vị”/   Vợ bỏ chồng viễn tỵ tha phương…”

                    Hai lần sau này nữa, khi ông Sắt cưới cô Hiệp ở Đan Điền. Sống với nhau được hơn năm, chả có lý do gì đáng nói, cô Hiệp bỗng bỏ đi làm công nhân sản xuất Muối ở Đồ Sơn, sau đó vào Bình Phước (phương Nam) lấy chống và sống, gắn bó với miền đất ấy. Mấy năm sau, ông Sắt lại cưới bà Còi, tuổi Giáp Thân (1944) Mệnh Thủy mà ông mang Mệnh Hỏa. Một xung khắc đối kháng trong Ngũ hành sinh khắc. Làm sao mà tồn tại được. 

                    Đẻ được đứa con trai đầu (Nguyễn Minh Khoa) với bà Còi, chưa đầy một năm. Đời sống gian nan quá. Ước mơ lại luôn cháy lên trong một con người giàu khao khát như ông.  Tháng 7/1965, ông Sắt tình nguyện làm đơn, xin tái ngũ, dứt áo lên đường vào Nam, dấn thân vào cuộc chiến tranh đánh Mỹ đầy cam go, ác liệt.

                     Vốn là một Sỹ quan trưởng thành từ cuộc kháng chiến đánh Pháp, ông Sắt lên đường vào Nam chiến đấu. Vởi uy tín của một người lính từng đi qua chiến tranh. Với “cái số” luôn gắn cuộc đời với “võ cách,” ông Sắt đang giữ quân hàm lúc về quê là Chuẩn úy. Khi tái ngũ được phong cấp bậc gì? Chỉ biểt, từ khi đi B, vào chiến trường Nam, ông không có dịp nào được trở lại thăm nhà. Khi ông hy sinh và giấy báo tử ông, họ gọi nơi ông mất là “Công trường 7.” Người ta bảo đó là E7 - Trung đoàn 7, Trung đoàn đang chiến đấu, thuộc phía Bắc của tỉnh Long An. 

                  Ông Sắt giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, đúng với tạng ông, người có học, người hùng biện và một lòng yêu nước.

                  Tôi còn giữ lá thư tay ông gửi theo đường giao liên trên đường đang vào sâu vùng địch. Ông Sắt tin như đinh đóng cột vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam nhất định toàn thắng . Ông động viên Thầy Bu tôi, động viên cả nhà tôi, rằng. Ông đã qua thời “làm dâu con” vất vả rồi. Giờ vào bộ đội, ông sẽ làm lãnh đạo. Sẽ là cấp trên của đội ngũ những người lính trẻ. Sẽ được hưởng những chế độ đãi ngộ của một người đã có nhiều thành tựu đóng góp với đất nước.

              Ông Sắt một mực tin như thế và ông nói lời với cả họ hàng. Cả cha mẹ, anh em tôi, cái  lời như của một “Chính trị viên” nói với anh em đồng đội.       

                    Năm Canh Tuất 1970 -  (“Năm tuổi.” Năm 37 tuổi – Năm Đại hạn “xung hợp” với tuổi Giáp Tuất của ông.) Ông Sắt hy sinh tại mặt trận Bắc Long An.

                    Ông Sắt trở thành liệt sĩ. Và, từ khi ông mất, cả nhà tôi trông ngóng, dò la. Nhưng, thật đau buồn, tất cả đều bặt vô âm tín. Người ta bảo,”Công trường 7 – E7 – Trung đoàn 7” của ông bị xóa sổ. Địch tiêu diệt hoàn toàn, không còn để lại một dấu vết. Cuộc chiến tranh thật ác liệt và tang thương đến thế.

                  Khi địa phương tổ chức “Lễ báo tử” được mấy ngày. Cha tôi lập “đàn tràng,” cúng suốt đêm, “bắc cầu” cho linh hồn anh siêu thoát, trở về với quê nhà, nơi tổ tiên, cội nguồn, quê kiểng.

                 Chứng kiến buổi lập đàn tràng với bao lời “kinh kệ” thảm thiết, xót đau, về số phận con người, về cõi bi ai  nơi dương thế mà bố tôi trình tụng, tấu lên … Buổi ấy, tôi ngỡ mình không đủ sức chịu đựng để ngắm nhìn mẹ cha tôi, anh chị em tôi … Rồi, vợ con ông Sắt đang quay cuồng trước mặt. Tôi muốn gào lên : “Ôi, con người trên mặt đất. Ôi bốn biển, năm châu. Ôi hôm nay và mãi mãi muôn sau, có bao giờ con người trên trái đất này, hết thương đau nơi chiến tranh, nơi thiên tai, nơi con người thật ác với con người, đang sống ? 

                  Lại chuyện. Lễ báo tử ông Sắt diễn ra buổi chiều, thì buổi tối hôm ấy, bà Trâm, vợ Hai ông Thìn, người cùng xóm, sang nói với bố mẹ tôi. Bà Trâm bảo. “Bây giờ, báo tử chú ấy rồi, tôi mới dám kể. Cách đây mấy hôm, tôi nằm mơ, thấy chú đi đò bị giặc bắn, ngã gục xuống dưới sông, mất tích dưới nước.  Chả biết thực hư thế nào, nhưng, đau buồn quá, sự thực là chú ấy đã hy sinh.”

                    Ôi, sự linh nghiệm từ giấc mơ kia là thực ư? Bởi, ngày anh Sắt “phục viên”  từ quân đội về nhà, khoảng năm 1960, đêm nào anh cũng ngồi đọc sách. Học chữ Nho, học Pháp thuật, học cả võ thuật nữa. Không hiểu có ông thầy nào ở đâu, tối nào cũng đến tận nhà dạy ông.

                 Hình ảnh một người con trai “đẹp giai” trẻ tuổi luôn say mê những gì vẻ lạ và thần bí. Tôi biết thế nhưng không dám hỏi. Ông thường ngồi lặng trong đêm, nghĩ gì? Viết gì? Bởi, phải xa ông lên đường vào bộ đội, tôi cũng không biết những “sản phẩm” ấy là gì? Kiến thức gì? Hay văn chương gì? Ông gửi lại, mà không ai giữ gìn cho ông. Năm tháng cũng không còn dấu tích.

                 Tôi nhớ đêm Ba mươi Tết, năm ấy. Ra Giêng, ăn Tết xong, ngày 17 âm lịch thì tôi chia tay ông, lên đường vào lính. Ba mươi Tết. Ngày cuối cùng trong năm. Chắc muốn xua đi tất cả những gì xúi quẩy của vận hạn đen, đang đổ lên mình. Tôi ngắm ông Sắt ngồi bên một góc vườn đốt lên ngọn lửa. Ông đốt cả một đống giấy cũ. Đống giấy cũ ấy là gì?  Có phải những ký ức hoài niệm đã qua từng được ông ghi lại? Có phải những trang thơ tình mộng mơ chẳng đâu vào đâu đã ám ảnh ông suốt những ngày đầu xanh tuổi trẻ? Có phải những trang văn ông viết mà tự dưng ông nhận ra nó trở thành phù phiếm, viển vông, chẳng cứu nổi đời mình ???

                Tôi nhìn ông thầm đoán và thầm tiếc. Thầm thương ông. Thầm cay nơi khóe mắt, khi nghe ông rầm rì đọc những câu gì như “Kinh kệ.” Như lời than van. “Lời chú.” Như kiểu trấn yểm, trừ tà. Như ông đang muốn đảo xoay một trật tự tháng năm với đời mình trước Mùa xuân phía trước …

                   

                 Ông Sắt mê Nho học. Mê Khổng Tử. Mê Tử vi. Mê Kinh dịch. Có lần, nghiên cứu Tử vi, ông tự thán rồi kể với tôi. “Sau này, số anh sẽ bị chết dưới nước, em ạ.” Lúc ấy, tôi chỉ lặng im nghe, biết vậy. Mãi sau này, khi người ta báo tử, “Anh không còn nữa.” Tôi chợt nhớ chuyện kể của bà Trâm. Rồi, cũng từ lá số tôi, cung “Huynh đệ” có câu : “Vương Bột đầu hà, Phá quân” ngộ “Thiên không” chi Thủy vị. (Thủy vị là Cung Tý - Sửu – Cung Nước.” Vậy, ông Sắt mất dưới nước (Sông nào đó ở Long An) như cái tích ông Vương Bột (bên Tàu, thời Đường) phải gieo mình xuống nước, giải thoát đời mình, thật ư ? Nghe nói, ở Long An có không ít những trận đánh diễn ra vào giữa mùa nước nổi, chiến sĩ ta bị hy sinh vô cùng thảm hại.

                  Trời ! Thân phận anh tôi. Thân phận một con người. Thân phận cả đời đi trong chiến tranh, không được hưởng an bình, hạnh phúc.

                  Ôi. Cuộc đời. Thế gian này có Trời, có Phật, có Thiên Địa Cao Minh ! Mà, sao lắm bất công. Tôi đã viết bài thơ khá dài về Anh, coi như nén tâm nhang thành kính, dâng lên Anh. Cúi Lễ Anh những ngày cả nước tri ân các Anh hùng Liệt sĩ. Bởi, chẳng biết rõ ngày nào, nơi chiến địa Phương Nam, Nguyễn Bá Sắt - Anh trai tôi đã vĩnh biệt cuộc đời …

                                             *

      

                    Mẹ tôi mười một lần sinh con. Mất năm người. Còn 6 anh chị em. Hai người anh trên tôi là Nguyễn Văn Toản và Nguyễn Bá Sắt. Hai chị gái trên tôi nữa là Nguyễn Thị Ngải và Nguyễn Thị Vy.

                    Anh Toản, anh Sắt mất. Rồi, chị Ngải, chị Vy, Út Thép mất. Những ngày ở trên ngôi nhà bên sông Rế, Cái Tắt – Sở Dầu – thành phố Hải Phòng. Ngày nào cũng vậy. Vào buổi sớm khi thức dậy, tôi vội trèo lên tầng ba, nơi đặt ban thờ tổ tiên ông cha và các vị chư tiên đã mất. Tôi thường soạn đôi ba chén nước, thắp nén hương, ngắm ảnh mẹ cha. Ngắm ảnh anh Sắt cả chú Thép, em trai Út của tôi nữa. Tôi thành kính cúi đầu trước tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Trước bàn thờ, tôi nguyện cầu cho Linh hồn các vị chư tiên được siêu sinh tịnh độ.

              Nguyện cầu Đấng Cao Xanh, Đấng Cao Minh – Tối thượng … trên đầu, chứng giám, phù hộ cho chúng tôi, những người chỉ một đời biết tu luyện lòng lành, đắp dầy nhân nghĩa có được sức khỏe và cuộc sống bình an …

              Và, Đây là bài thơ tôi viết tặng người anh trai NGUYỄN BÁ SẮT – Người yêu thương, kính trọng của đời tôi.    

K.C