/Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong/. Thơ Thanh Tịnh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

THƠ VĂN BẠN BÈ

CHUYỆN VỀ CHIẾC TIỂU BẰNG GỖ NGỌC AM CỦA CỤ TRẠNG TRÌNH

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1586 (âm lịch cuối năm Ất Dậu) hưởng thọ 95 tuổi.

CHUYỆN VỀ CHIẾC TIỂU BẰNG GỖ NGỌC AM CỦA CỤ TRẠNG TRÌNH

Nhà Hán Nôm Vũ Hoàng

 

       Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1586 (âm lịch cuối năm Ất Dậu) hưởng thọ 95 tuổi. Sinh thời, gặp lúc nhà Lê suy vong, cụ không muốn làm quan nên không ứng thí, năm 1527 nhà Mạc thay thế nhà Lê, cụ thấy  Thái tổ Mạc Đăng Dung chỉ lên ngôi 2 năm đã nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (1530) về Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng, mặc dù khi đó cụ Mạc Đăng Dung vẫn còn rất tráng kiện. Cảm động khi thấy hành động không tham quyền đoạt vị, coi việc thay thế nhà Lê là việc bất đắc dĩ, trên thuận ý trời, dưới hợp lòng dân của Thái tổ Mạc Đăng Dung, nên năm Ất Mùi 1535, ở tuổi 45 cụ mới ra ứng thí và đỗ Trạng nguyên. Sau Khi đỗ Trạng nguyên cụ được bổ làm quan, sau là Tả thị lang bộ Lại kiêm Hàn Lâm Đông các đại học sỹ. Cụ đã phò tá nhà Mạc tạo nên một thời thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến. Sau khi Mạc Đăng Doanh mất (1540),  truyền ngôi cho con là Mạc Phúc Hải,  triều đình nhà Mạc lại xuất hiện việc tranh giành bè phái, quan lại lợi dụng hoàng thân quốc thích, họ nội, họ ngoại của vua thi nhau vơ vét tiền của, áp bức dân lành, Cụ Trạng làm đơn xin chém 18 lộng thần (Thập bát trảm sớ) trong đó có cả Phạm Dao là con rể cụ làm náo động cả triều đình. Dĩ nhiên nhà vua không thể duyệt đơn của cụ, cụ liền lấy cớ đó cáo quan nghỉ hưu, về quê dưỡng lão, mặc dù khi đó cụ mới có 53 tuổi, còn rất mạnh khỏe và  minh mẫn. Nhà vua Mạc Phúc Hải buộc lòng phải đồng ý cho cụ nghỉ hưu, thấy cụ là người thanh liêm cương trực, không biết nên tặng món quà gì trước lúc chia tay? Với nhà vua, cụ không chỉ là quan trọng thần, còn là thày dạy, vẫn mong cái tài của cụ  tiếp tục giúp ích cho đất nước. Nhà vua liền cho mời cụ Trạng vào cung gặp riêng, cầm tay cụ Trạng mà nói rằng:

- Trẫm  cũng như Tiên đế luôn trọng cái tài, cái đức của khanh, nhưng sự việc đã đến bước này, không thể lưu khanh tại triều được nữa, song vẫn mong khanh sau khi nghỉ hưu vẫn quan tâm tới việc triều đình, phàm những việc có lợi cho giang sơn phải ra tay giúp đỡ. Trẫm  một mặt là phong tước Hầu cho khanh (Trình Tuyền hầu), một mặt ra lệnh cho các quan địa phương phải kính trọng, giúp đỡ, không được làm khó dễ hoặc gây bất lợi cho khanh trong những ngày an dưỡng tại quê nhà. Còn một việc nữa, mấy hôm nay trẫm nghĩ mãi không ra, nay gọi khanh tới để hỏi xem ý của khanh thế nào?

Cụ kính cẩn thưa:

- Muôn tâu bệ hạ, đó là chuyện gì vậy?

- Ta muốn tặng khanh một món quà chia tay, nếu là tiền bạc, ngọc ngà chắc khanh không thích, cố tình ép khanh nhận, ta cũng không đành. Vậy nay gọi khanh tới, dẫn khanh vào kho quốc bảo, khanh ưng những vật gì ta sẽ chuẩn tặng cho khanh các vật đó, bất kể đáng giá bao nhiêu.

      Quan hầu dẫn cụ Trạng vào kho quốc bảo, trong kho cơ man nào là vật báu đủ loại, ngọc ngà châu báu, đồ gốm cổ, tranh cổ …toàn những vật quý hiếm do các quan châu các vùng, các sứ giả các nước triều cống. Cụ để ý tới một góc phòng có vẻ ẩm thấp, bụi bặm, tại đây có một số khúc gỗ to nhỏ, dài ngắn  khác nhau. Cụ hỏi vị quan hầu:

- Chẳng phải những khúc gỗ này cũng là quốc bảo sao?

Vị quan hầu khẽ khàng thưa:

- Thưa cụ, xin người chớ coi thường các khúc gỗ này, đó là gỗ Ngọc Am do các quan lang mạn Bắc cung tiến, có khúc nhận được từ các triều đình trước để lại, tuy là gỗ nhưng cũng ngang với vàng đó.

 - Gỗ Ngọc Am là thế nào, có tác dụng gì mà quý vậy?

- Thực ra nó chính là gỗ Hoàng đàn, cùng họ với gỗ thông, mọc nhiều ở mạn phía Bắc. Những cây Hoàng đàn có tuổi thọ trên 1.000 năm, sau khi đốn, phải vùi trong đất ủ nhựa trên 100 năm mới được gọi là Ngọc am, gỗ này có mùi hương thơm đặc biệt vì chứa một loại tinh dầu, dùng tạc tượng, đồ trang sức quý phái, mùi hương có thể xua đuổi côn trùng, thậm chí ngăn cản được ma quỷ xâm nhập. đặc biệt nếu làm quan tài, có thể bảo vệ xương cốt hàng ngàn năm, không cần phải ướp xác. Vì vậy, gỗ Ngọc am chỉ có vua chúa, các thân vương mới được phép sử dụng. Nghe nói có một vị quan án sát Nghệ An rất hiếu thảo, khi mẹ chết đã bí mật dùng gỗ Ngọc Am làm quan tài cho mẹ, không ngờ một năm sau bị phát giác, nhà vua ra lệnh đào lên, thu hồi gỗ Ngọc am và cách chức, bỏ tù vị quan trên.

     Cụ Trạng lần đầu tiên được trông thấy loại gỗ này, cụ thấy có một khúc gỗ đầu vuông, mỗi cạnh chừng non một thước ta (30cm), chiều dài khoảng 2 thước rưỡi (1m). cụ nói với vị quan hầu là đã chọn khúc gỗ này.

     Quan hầu cho người mang khúc gỗ tới gặp nhà vua, nhà vua ngắm nhìn khúc gỗ và hiểu ý cụ Trạng, ngài liền lấy bút viết vào mặt đầu khúc gỗ chữ HUỆ (惠) và mặt đuôi khúc gỗ chữ ÂN (恩), đoạn ngài đi quanh một vòng, ngắm nhìn khúc gỗ rồi viết tiếp hai chữ ĐẠI VIỆT (大粵) vào phần giữa thân khúc gỗ. Cụ Trạng cảm động, lạy tạ, xin mang khúc gỗ ra về. Tới nhà, các học trò xúm quanh xem khúc gỗ Ngọc am, quà kỷ niệm của nhà vua, đọc các chữ của nhà vua, không ai hiểu vì sao cụ lại chọn khúc gỗ, nhà vua viết các chữ ấy có ý gì, muốn nhờ thày giải thích. Cụ chỉ vuốt râu cười, đặt ngón tay trỏ ngang môi ý muốn bảo đây là chuyện bí mật. Vì cụ nghe nói gỗ Ngọc am này làm quan tài có thể bảo quản được xương cốt dài lâu, nhưng làm quan tài thì tốn gỗ, lai không giữ được bí mật, nên cụ chỉ chọn khúc gỗ nhỏ để sau này làm một cái tiểu bằng gỗ cho mình. Nhà vua xem khúc gỗ cũng phần nào hiểu được dụng ý của cụ. Ngài viết hai chữ ÂN và HUỆ ở hai đầu ngầm khen người có lòng thương dân yêu nước, lấy ý trong Luận ngữ : “使 

     Hữu quân tử chi đạo tứ yên: kì hành kỉ dã cung, kì sự thượng dã kính, kì dưỡng dân dã huệ, kì sử dân dã nghĩa” 

Nghĩa là “Có bốn điều hợp với đạo người quân tử: giữ mình thì khiêm tốn, thờ vua thì kính cẩn, nuôi dân thì phải nhân ái, sai khiến dân thì phải có tình”.

La Quán Trung,: “Quảng thi ân huệ, dĩ thu dân tâm”   Ban rộng khắp ân huệ cho dân để thu phục lòng người.

     Cụ là người luôn tâm niệm lấy dân làm gốc, “Cổ lai quốc dĩ dân vi bản”, hai chữ ÂN, HUỆ này cụ mang theo cả khi đã mất. Chữ Đại Việt là tên nước ta thời đó, ý nhà vua muốn nhắc cụ dù làm quan hay không làm nữa vẫn không quên được giang sơn. Cũng vì bốn chữ trên: “ÂN HUỆ, ĐẠI VIỆT” mà cụ nguyện trung thành với nhà Mạc không chỉ khi còn sống, mà cả khi đã mất, việc cụ di chuyển long cốt của bốn vị vua Mạc về Ao Dương và khu Cửu Nguyên tại bờ đê sông Hàn (thôn Thanh Trì, xã Kiến Thiết huyện Tiên Lãng) đã chứng tỏ điều đó.

     Khúc gỗ được cụ mang về từ năm 1543 để tại nhà, lúc đầu mọi người còn chú ý, sau lâu dần không mấy ai nhớ tới, mặc dù là quà vua ban. 20 năm sau, tới năm Nhâm Tý (1562)  cụ đã 72 tuổi, nhưng vẫn khỏe mạnh, Cụ cùng cô học trò khóa cuối là Nguyễn Thị Hương nhưng tên thường gọi là Tý, bí mật mang khúc gỗ Ngọc Am ra dùng cưa xẻ làm 6 tấm, cụ dùng 6 tấm ấy đóng một chiếc hòm giống như chiếc quan tài nhỏ, hai tấm thiên địa và hai đầu trốc dày 5cm, hai tấm thành dày 4.5 cm. Cụ đóng vuông hòm sắc cạnh, không chạm trổ, hoa văn rườm rà, xong cụ dùng mực tàu hòa với sơn viết vào trốc đầu chữ HUỆ, trốc chân chữ ÂN, hai bên thành cụ viết 24 chữ, bài thơ 6 câu 4 chữ, đặc biệt là các chữ đó cụ sắp xếp lộn xộn, không theo thứ tự của bài thơ. Sau khi các chữ đã khô, cụ  dùng sơn ta màu đỏ quét lên mặt gỗ, khi sơn khô sẽ không còn nhìn thấy gì cả, chỉ khi ngâm vào nước, các chữ mới hiện ra.  cụ dùng cưa rạch một đường nhỏ đầu tấm địa, giấu một chiếc thẻ bằng cật tre có chiều dài 26.5 cm, rộng 1cm, dày 0.3cm vào trong mạch cưa. Trên mặt thẻ tre, bà cụ Tý dùng kim sắt nhọn vạch các chữ theo ý của cụ, khắc xong dùng sơn pha mực tàu tô lại. Gài xong thẻ tre vào mạch cưa, cụ dùng sơn ta trộn mùn cưa (cốn) gắn kín.

     Sau đó chiếc tiểu bằng gỗ được cụ đem ra quán Trung Tân giấu đi, cất vào một nơi chỉ có cụ và bà cụ Tý biết.

     Tháng 11 năm Ất Dậu  cụ bệnh trọng, ngày 25 tháng 11 (14-1-1586) cụ ra đi , đêm ngày 27-11, có 9 người học trò đưa thi hài của cụ từ bến Trung Tân xuống thuyền, bí mật sang phía bãi Triều cao Tân Minh (Tiên Lãng) vùi tạm quan tài của cụ xuống ven sông (hung táng). Bãi Triều Cao (dân gọi là Chiều cao) là khu đất bãi bồi, cụ mua của xã trước đó hai chục năm, khi cụ đưa người con trai thứ bảy là Nguyễn Ngọc  Liễn sang n