/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

XÃ HÙNG TIẾN, HUYỆN VĨNH BẢO KHÔNG CÓ TIẾN SỸ NÀO?

Và điều đặc biệt nhiều trường hợp nhầm lẫn xảy ra chỉ ở xã Hùng Tiến????
 XÃ HÙNG TIẾN, HUYỆN VĨNH BẢO: SỰ NHẦM LẪN NĂM TIẾN SỸ NHO HỌC?
.

       Tại vùng đất “Bảo vệ vĩnh viễn” có nhiều làng xã cổ với những tên Nôm thật khá ngộ nghĩnh như: Tè, Nội, Tráng, Chìa, Giông, Lả, Gạo, Bi, Mòi, Hóp, Si, Sưa, Sẽ, Ho, Gáo, Cốc, Râu, Lác, Lau, Giắng, Vẻn, Thừa… Giống như một số địa danh ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình “Ăn cơm Hom, nằm giường Hòm, đắp chiếu Hới”, hay các địa danh ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương “Quan làng Cốc, ốc làng Cờ”,… Và còn nhiều cái tên “kỳ quặc” khác nữa kể từ khi thành lập, nhưng sự đời cũng có nguyên do của nó. Ông cha ta ngày xưa khi đặt tên cho con cháu, hay một địa danh nào đó cũng đều có ý tứ, căn nguyên, chứ không phải thích gì thì đặt tên đó. Sang thời cách mạng nhiều địa phương muốn quê mình “phát đạt” nhanh, thì đổi làng mình thành Quyết Tiến, Tiền Phong hay Chiến Thắng… nhưng sự đời đâu có vậy, chỉ khổ những người muốn tìm lại tên làng xưa, phải lặn lội không biết mất bao nhiêu thời gian để tìm được chính làng gốc của mình?

       Ở một góc nhìn rộng hơn, thì tên hay của quốc gia này có thể là tên dở của quốc gia kia hoặc ngược lại. Ví dụ chữ Dũng của tiếng Việt quá tuyệt vời, nhưng khi chuyển nguyên bản sang tiếng Anh có nghĩa là “phân”, nên khi dịch tên Dũng từ tiếng Việt sang tiếng Anh phải thêm chữ “j” vào nữa thành “Djung”. Hay chữ Huy của Việt Nam khi dịch sang tiếng Nga phải dịch là Guy vì không khéo nó là bộ phận sinh dục nam. Hoặc chữ Am của tiếng Việt khi chuyển sang tiếng Uzobek thì phải dịch khác đi, không lại thành bộ phận sinh dục nữ. Hay chữ tốt của tiếng Việt khi chuyển sang tiếng Gruzia thì lại thành bộ phận sinh dục nam. Hoặc đoàn đại biểu của Lào sang thăm Việt Nam, chỉ cho họ thưởng thức nghệ thuật quan họ thôi, chứ không dám cho đi xem biểu diễn chèo vì có quá nhiều hí hì hi…

      Qua một vài dẫn chứng trên, độc giả có thể hiểu thêm cách gọi tên của cha ông ta ngày trước. Người dân Hải Phòng không thể không biết về trang An Biên (安邊), từ  biên 邊 (bi én) âm Nôm là Ven hay Vẻn và đến nay vẫn tồn tại ba làng Vẻn: Làng thứ nhất ở Đông Triều quê bà Lê Chân, làng thứ hai là ba quận nội thành Hải Phòng (1955 – 1960) và làng thứ ba ở xã Hưng Nhân huyện Vĩnh Bảo (gần cầu Nghìn). Hay làng An Lãng (安閬), có nghĩa là sóng yên, âm Nôm gọi là Tráng, nghĩa là một phần đất dưới trang. Hay từ Chìa có nghĩa là (mảnh đất) nhô ra, giống như từ Thừa (xóm Thừa ở Trung Am). Hay làng Trúc Hiệp hay Trúc Hợp (竹合), từ Hợp âm Nôm là Hóp. Hay từ Oai Nỗ (威努), từ nỗ có phiên âm là “lủ”, âm Nôm là Lả, nói ngọng thành Nả. Hay từ Hà Hôi (葭灰), từ hôi (nghĩa là tro) âm Nôm là Ho. Từ làng Si có nghĩa là “si loa” cùng loài với “điền loa” ốc sống ở nước ngọt, nơi có nhiều loại nhuyễn thể này. Làng Mai Xá, âm Nôm là Mòi có nghĩa là mảnh đất áp làng. Từ Bi âm Nôm là bãi đất. Lô Đông âm Nôm là Sưa lấy từ chữ Sơ mà ra, nghĩa là đầu tiên, ban đầu. Nhân Lễ âm Nôm là Sẽ lấy từ chữ Sĩ mà ra, có nghĩa mảnh đất ven nước. Hà Hương tên Nôm là Giáo (có trong thần tích làng Hà Hôi) do nói ngọng là Gáo, có nghĩa là giáo dục hay dạy lễ nghĩa. Bắc Tạ âm Nôm là Cốc có nghĩa là Hang, “huyệt cư” hay đất ở. Quý Xuyên ngoại âm Nôm là Dâu, nói ngọng thành Râu, nghĩa là làng trồng nhiều dâu. Quý Xuyên nội âm nôm là Lác, nghĩa là làng có nhiều cỏ lác.v.v. Hay làng Cổ Đẳng (古等), từ đẳng  等 (déng) âm Nôm là Giắng, người địa phương vẫn gọi Cổ Đẳng là làng Giắng, khi chia làng làm đôi thì gọi là Giắng trên, Giắng dưới (tức Cổ Đẳng thượng và Cổ Đẳng hạ),…

Không có mô tả ảnh.
Bản đồ huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, xã Hùng Tiến màu vàng ở trên

       Đó là một số cách gọi tên của các làng khác, còn trang Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ xưa (nay là Vĩnh Bảo), từ Tạ (謝) phiên âm quốc tế là (xiè), âm Nôm là Tè, còn chứ Xá là làng, nên gọi là làng Tạ, dân địa phương gọi theo âm Nôm là làng Tè. Theo các tài liệu cổ (kể cả cả sắc phong của xã) thì xã Tạ Xá có một ngôi đình ba gian hai chái, sau này mang tên Ba Thôn (Nội, Tè và Tráng) ở đống Miễu (khu vực chỗ phần mộ họ Nguyễn Xuân ngày nay). Theo sự phân công của hương lý kỳ mục xã Tạ Xá thì thôn Tè quản lý chính, thôn Nội rước bát hương, còn thôn Tráng thì được rước ngai.

       Theo các bậc cao niên tại địa phương kể lại thì đình Ba Thôn bị xuống cấp và bị dỡ bỏ vào thập kỷ 30 của thế kỷ XX. Khi tháo dỡ đình, ban đại diện thôn Tạ Ngoại tới chậm chỉ nhận được bát hương, bài vị, hòm sắc phong… để rước về miếu và đình làng mình thờ. Còn việc thờ thành hoàng sau đó được quan tri phủ Vĩnh Bảo phán xử cho thôn Tạ Ngoại xã Trung Tạ tiếp tục được thờ cúng và quản lý các sắc phong tại miếu và đình. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tìm được ở đình Ba Thôn có đôi câu đối còn lưu truyền:

           謝舍三村亭共拜

           壯齐二處土從原

Phiên âm:

Tạ Xá tam thôn đình cộng bái

Tráng Tè nhị xứ thổ tòng nguyên

Dịch nghĩa:

Xã Tạ xá xưa có ba thôn cùng chung một đình thờ phụng

Hai làng Tráng và Tè có thủa  cùng một gốc mà ra 

Thế rồi có những vần thơ lục bát thể hiện tình keo sơn trong cộng đồng của ba cụm dân cư thật nồng ấm:

Ba thôn chung một mái đình

Trải bao mưa nắng nghĩa tình bên nhau

Vo tròn thương nhớ xa sau

Nội, Tè, Tráng mãi bền lâu ruột rà.

       Theo truyền thống văn hóa của người Việt, đình làng chỉ có thể của một xã (làng) mà thôi. Vào thời Lê trung hưng thì thôn Nội Tạ phát triển đủ cơ số dân và tách ra thành xã, phần còn lại của Tạ Xá thành xã Trung Tạ. Đến thời kỳ sau năm 1938 thì thôn An Lãng đủ cơ số dân và cũng trở thành xã và phần còn lại của Trung Tạ thành Tạ Ngoại. Rồi sau này Tạ Ngoại được chia thành hai thôn là Tạ Ngoại1 và Tạ Ngoại 2.

       Vào những năm 40 của thế kỷ trước, theo sự quản lý hành chính địa giới mới thì Nội Tạ, Tạ Ngoại và Thượng Đồng thuộc xã Lý Nhân, còn An Lãng, Kinh Hữu và Xuân Cốc thuộc xã Liên Giang. Năm 1947 xã Liên Giang (Kinh Hữu, An Lãng, Xuân Cốc) hợp nhất với xã Lý Nhân (Nội Tạ, Tạ Ngoại, Thượng Đồng) thành xã An Hòa. Sau cải cách ruộng đất Xuân Cốc được cắt về xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo.

       Vì là Giáp Trung nên Tạ Ngoại được giữ các sắc phong của xã Tạ Xá và của cả Tạ Ngoại nữa, nên đình và miếu Tè đến năm 1938 còn giữ được 49 sắc phong thuộc các đời: Thịnh Đức 5 (1657), Cảnh Trị 8 (1670), Dương Đức 3 (1674), Chính Hòa 4 (1683), Vĩnh Thịnh 7 (1711), Cảnh Hưng 28 (1767) và 44 (1783), Chiêu Thống 1 (1787), Cảnh Thịnh 4 (1796), Tự Đức 7 (1854), 10 (1857) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Đây có thể coi một kỳ tích về sắc phong của một làng không chỉ với huyện Vĩnh Bảo, mà của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trong cuốn sách Trạng nguyên Tiến sỹ Hương cống Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin năm 2002 có ghi:

-         Nguyễn Bá Tùng (阮 伯 松), người làng Tạ Xá huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng (cùng quê với Nguyễn Duy Tinh). Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông (cùng khoa thi với Trạng nguyên Lê Ích Mộc).

-         Nguyễn Duy Tinh, người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh (cùng khoa thi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Làm quan tới chức Thừa Chính sứ.

       Và sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919” Nhà Xuất bản Văn học năm 2006 ghi: Xã Tạ Xá xem chú thích Nguyễn Bá Tùng cùng xã với Nguyễn Duy Tinh. Và, chúng tôi lần theo dòng chú thích: Theo Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục và Đăng khoa lục sưu giảng ghi tên xã Tạ Xá. Rồi trong Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục còn ghi thêm tên xã Lạc Dục, huyện Tứ Kỳ. Thông qua một nhà nghiên cứu sử học Đ.V.N người Tứ Kỳ, được biết thôn Lạc Dục thuộc xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ gần thành phố Hải Dương.

       Vào một ngày hè nóng như thiêu như đốt, trên đường đi tới Báo Hải Dương có chút việc, mấy anh em tôi rẽ vào xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ để thăm và xem lại địa danh nơi đây xưa có phải là xã Tạ Xá không, hay chỉ duy nhất ở Vĩnh Bảo. Lúc qua Trạm Y tế xã Hưng Đạo, tôi mới ghé qua hỏi một thày thuốc trẻ:

-         Bác sỹ chỉ giúp đường tới thôn Lạc Dục?

-         Các chú hỏi có việc gì?

-         À, chúng tôi là mấy anh em nhà văn muốn tìm hiểu văn hóa làng quê và đang đi

tìm quê gốc cho mấy nhà khoa bảng từ thế kỷ XVI.

-         Cháu cho các chú số máy của “già làng” để các chú hỏi nhé.     

Xin cảm ơn bác sỹ và qua số điện thoại này, chúng tôi đã tới được Lạc Dục. Đây là một địa danh nằm sát ngay sông Thái Bình và có bề dày văn hóa. Rất may cho mấy anh em tôi là cán bộ thôn rất nhiệt tình và sáu sắc phong của Lạc Dục vẫn còn được giữ nguyên vẹn. Anh em tôi cẩn thận nhìn từng sắc một, từ niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1886), Duy Tân 3 (1909) đến Khải Định 9 (1924) đều ghi: Sắc cho Hải Dương tỉnh, Tứ Kỳ huyện, Nghĩa Xá tổng, Lạc Dục xã. Như vậy bằng phương pháp loại trừ và trực tiếp hỏi ý kiến nhà nghiên cứu lịch sử Đ.V.N của huyện Tứ Kỳ: Chắc chắn ở Tứ Kỳ không có xã Tạ Xá, mà nó nằm ở lục tổng khu trên của huyện Vĩnh Bảo. Anh em tôi cảm ơn và tiếp tục công việc của mình.

          Bồi hồi nhớ lại: Khi viết cuốn sách về nhà cách mạng tiền bối Nguyễn Văn Ngọ, tôi có đến Tạ Xá để tìm hiểu về cơ sở cách mạng quan trọng của Liên tỉnh B và được biết xã Tạ Xá xưa thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh và vào cuối thế kỷ XIX, do thay đổi địa giới hành chính, Tạ Xá chuyển về huyện Thanh Lâm. Khi bỏ cấp phủ, Thanh Lâm đổi thành huyện Nam Sách. Sau năm 1945, thực hiện liên xã, Tạ Xá chuyển tên thành thôn Tè, xã Hợp Tiến, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.     

Rồi khi khi đi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Thái úy Tô Hiến Thành, tôi có tới làng Tè, xã Phúc Khánh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (xưa là Tạ Xá thuộc lộ Long Hưng, quê vợ thứ của Đức Thánh Tô), thì càng khảng định rõ làng Tè chính là Tạ Xá. Lúc tôi chuyện trò với nhà Hán Nôm Vũ Hoàng:

-         Những chứng cứ trên khảng định thêm một lần nữa, xã Tạ Xá của huyện Tứ Kỳ

ngày xưa chỉ có ở Vĩnh Bảo?

-         Không phải ông tìm ra xã Tạ Xá nhé, mà nhà cách mạng Nguyễn Văn Ngọ và

Thái úy Tô Hiến Thành mới là người tìm ra xã Tạ Xá nhé. Mấy anh em đều ôm bụng mà cười. 

          Trong khi đó những nhà sử học lại ghi trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo: Tiến sỹ Nho học Nguyễn Duy Tinh người sở Tây Tạ, nay là thôn Thượng Đồng và Hạ Đồng xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo.

          Hay có một tác gia sử học thì lại khảng định chắc chắn rằng: Tiến sỹ Nho học Nguyễn Bá Tùng khoa Nhâm Tuất (1502) đời vua Lê Hiến Tông quê ở xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Nếu sự khẳng định ấy là đúng thì xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo còn thiếu một nhà khoa bảng nữa là đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh, cùng khoa thi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

          Đến lúc này ta có thể khảng định hai nhà khoa bảng Nguyễn Bá Tùng và Nguyễn Duy Tinh là người quê gốc ở đâu được rồi? Câu hỏi này dành cho các nhà làm sử và độc giả?

Trong quá trình xem xét những tư liệu sử đã được in ấn vào năm 1998 và 2018 tại Vĩnh Bảo và Các nhà Khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 (NXB Văn học) chúng tôi thấy xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo có 3 Tiến sỹ Nho học:

1-    Phạm Tri Chỉ (? - ?) người xã Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Bắc Tạ, xã Hùng

Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thuần Phúc 4 (1568) đời Mạc Mậu Hợp.

2-    Lê Tử Khanh (? - ?), người xã Xuân Trì, huyện Vĩnh Lại. Nay là xã Hùng Tiến,

huyện Vĩnh Bảo. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ (Hoàng giáp) khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng.

3-    Phí Vạn Toàn (? - ?), người xã Xuân Trì, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Phương

Trì, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Tham chính.

          Tiến sỹ Nho học Phạm Tri Chỉ là người thôn Áng Ngoại (thời xa xưa thôn này thuộc Bắc Tạ), từ thời Đồng Khánh (1886 – 1888) đã tách thành xã riêng, từ năm 1948 tới nay là thôn Áng Ngoại, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

       Còn hai tiến sỹ Lê Tử Khanh và Phí Vạn Toàn, quê xã Xuân Trì huyện Vĩnh Lại, nay là xã Tân Quang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Vì xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo từ khi có người đến ở tới nay đã trên dưới 1.000 năm đều thuộc huyện Tứ Kỳ chứ chưa một ngày nào thuộc huyện Vĩnh Lại và cũng chưa có xã Xuân Trì, cũng như tại xã Phương Đường sau là Phương Trì không có họ Phí.

       Có lẽ đây là những nhầm lẫn của những người làm sử từ thời trước đều ghi huyện Vĩnh Bảo là từ huyện Vĩnh Lại mà ra. Sau đó các những người làm sử cứ truyền lại cho sinh viên của mình qua nhiều thế hệ. Đến nay (2020), những người viết sử cho làng Áng Ngoại, xã Trung Lập vẫn ghi ở bách khoa toàn thư: Thôn Áng Ngoại xưa thuộc tổng Bắc Tạ, phủ Vĩnh Lại, trấn Hải Dương? Mà thôn Áng Ngoại chưa một ngày thuộc về huyện Vĩnh Lại. Lại có rất nhiều người lục tổng khu trên của huyện Vĩnh Bảo ngày nay vẫn nghĩ mình xưa thuộc huyện Vĩnh Lại? Và điều đặc biệt nhiều trường hợp nhầm lẫn xảy ra chỉ ở xã Hùng Tiến????

                                               Ngọc Tô



      













.