/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

TÌM QUÊ CHO TIẾN SỸ NHO HỌC PHẠM TRI CHỈ

Khi các ông khấn vái và lúc hô thần nhập tượng đều gọi tên cụ là Nguyễn Bá Tùng rồi, nên tượng cụ sau sẽ chuyển cho đền Tạ Xá và tạc lại cho Tiến sỹ Nho học Phạm Tri Chỉ bức tượng khác

TÌM QUÊ CHO TIẾN SỸ NHO HỌC PHẠM TRI CHỈ
.

       Trong tay tôi đã có danh sách gần như đầy đủ các Tiến sỹ Nho học tại huyện Vĩnh Bảo, nhưng việc tìm ra làng gốc của các nhà khoa bảng kia cũng không phải là chuyện dễ dàng gì, vì trải qua hàng mấy trăm năm các địa danh bị thay đổi, quy mô làng xã phát triển nhanh chóng và đặc biệt là việc thay đổi tên. Những người sinh ra trên mảnh đất của mình, nhưng cũng không biết vài chục năm trước tên là gì, chứ đừng nói tới các thời kỳ xa xưa.

        Theo sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919” do Nhà xuất bản Văn học 2006, cùng nhiều tài liệu khác của trung ương và địa phương Hải Dương cũng như Hải Phòng, thì Phạm Tri Chỉ quê xã Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, nay là thôn Bắc Tạ, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa thi Mậu Thìn (1568), niên hiệu Sùng Khang thứ 3, đời vua Mạc Mậu Hợp, làm quan tới chức Hữu thị lang. Còn sách Lịch sử huyện Vĩnh Bảo xuất bản năm 2018 lại ghi Tiến sỹ Nho học Phạm Tri Chỉ quê thôn Áng Ngoại, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

        Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi thấy Phạm Tri Chỉ đỗ đại khoa, làm quan Thái giám, một võ quan trong triều nhà Mạc và Lê trung hưng tới chức Hữu thị lang. Đây là một chức khá lớn trong triều đình phong kiến ngày xưa, không phải gần hai chục nhà khoa bảng của Vĩnh Bảo chỉ có bốn người giữ chức vụ như ông (Phạm Đức Khản, Dương Đức Nhan, Trần Lương Bật, Đào Công Chính), hai người giữ chức thượng thư (Đào Văn Hiển, Nguyễn Bỉnh Khiêm).

       Theo truyền thuyết cậu bé Phạm Tri Chỉ xuất thân từ một gia đình nghèo khó, bố mẹ làm mõ cho xã Bắc Tạ, một nghề nghèo hèn bị xã hội phong kiến khinh miệt, nhưng có sức khỏe hơn người và rất thông minh, lanh lợi. Hàng ngày mọi đứa trẻ khác được đi học, thì cậu bé Phạm Tri Chỉ phải đi chăn trâu cắt cỏ. Với đức tính ham học, nhưng gia đình không có tiền, nên cậu thường xuyên ghé đến lớp của thầy đồ ở chùa Bắc Tạ (chỗ trường cấp hai Hùng Tiến ngày nay) xem các bạn học tập ra sao và mình học rình. Nhiều lần thầy đồ thấy tội, nên đã cho vào lớp ngồi cuối học cùng với các bạn. Phạm Tri Chỉ như mở cờ trong bụng, thế là cậu cố gắng ban ngày còn phải kiếm sống, tranh thủ ban tối học bài. Nhà nghèo đến cái đèn dầu cũng chẳng có, Phạm Tri Chỉ nghĩ ra một cách bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng thay đèn. Không có vở viết, cậu dùng lá chuối hột ủ vàng thay giấy để tập viết và dùng quả phèn đen hay mùng tơi xay ra làm mực. Còn bút thì làm bằng lông mèo hay lông thỏ cho vào ruột cành tre nhỏ buộc lạị... Nhiều lúc những nguyên liệu trên hiếm thì Phạm Tri Chỉ dùng “than hoa” vẽ lên tường, hay mặt đá để học. Vậy mà bằng nghị lực phi thường, cậu học trò này đỗ liền khoa thi Hương, sau là thi Hội, nên thày cũng dốc tâm sức cùng trò vào cửa ải thi Đình tiếp theo.

       Bố mẹ Phạm Tri Chỉ chỉ biết chịu khó cày cấy tích cóp từng xu, từng hào để cho con lên Thăng Long đi thi. Một hôm đang tát nước ở thửa ruộng cây đa Đồng Soi, trong lúc khơi lại mương, ông bà thấy một hộp sọ người, không biết là đàn ông hay đàn bà. Hai người cho vào chiếc nồi chân mang ra đống gần đó chôn giùm và cầu khấn cho linh hồn người chết giúp con mình thi cử đỗ đạt.

       Không biết có phải từ việc làm nhân đức đó hay sự quyết tâm học hành của Phạm Tri Chỉ, lần thi Đình năm Sùng Khang thứ 3 (1568) có rất đông sỹ tử đi thi, nhưng triều đình chọn được hai mươi mốt người đỗ đại khoa, có năm người đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sỹ xuất thân, còn lại mười sáu người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, trong đó Phạm Tri Chỉ đỗ thứ ba trong số các đệ tam. Đây là một niềm vinh dự lớn của cả xã Bắc Tạ thời bấy giờ. Tin từ Tri huyện Tứ Kỳ báo về cho hương lý kỳ mục xã Bắc Tạ cũng như thôn Tường Vân làm lễ đón rước “ông nghè” về vinh quy bái tổ. Thấy con gia đình nhà mõ, chính quyền xã kiên quyết không tổ chức đón rước. Ngày ấy có cây cầu qua kênh vào Tường Vân còn bị lý trưởng hạ lệnh cho dỡ một phần cầu để xe không vào được. Tân nghè Phạm Tri Chỉ tới nơi tỏ vẻ rất bực tức và liền buông một câu độc địa: “Xã này không thể khá lên được? Và thề không bao giờ trở lại nơi đây nữa, nếu hương lý kỳ mục xã này không mang kiệu tới tận nơi rước về”? Ông liền ném cây bút xuống con sông nhỏ này, rồi cuốc bộ vào nhà làm lễ gia tiên và nhanh chóng ra xe về kinh.

       Chiếc bút của vị tân nghè này trôi tới ngã ba sông Kênh Giếc (khu vực thôn Áng Ngoại ngày nay), thì nhóm người chèo đò nơi đây trông thấy cũng không giám vớt, bút tiếp tục trôi ra sông Hóa và đến khu vực đò Bến Cổ Am được một người họ Trần xã Cổ Am vớt lên đưa về từ đường thờ phụng. Sau này xã Cổ Am hưng thịnh về đường khoa cử, còn ở Tường Vân - Bắc Tạ không thấy xuất hiện nhà khoa bảng Nho học nào nữa. Cũng giống trường hợp của tân nghè Đào Công Chính ở Hội Am (xã Cao Minh ngày nay). Khi xe của huyện rước tân nghè về tới xã Hội Am, lý trưởng đã không ra tiếp đón lại còn cho quân đào một rạch nước ngang đường để ngăn cản xe vào làng. Tân nghè cũng bẻ bút vứt ra đồng và thề cũng không về nơi đây nếu lần sau không có võng đào tới tận nơi khiêng ông về. Sau này về trí sỹ Bảng nhãn Đào Công Chính cũng không về Hội Am, mà sinh sống, mở trường dạy học, làm thuốc…những năm cuối đời ở tổng Kê Sơn cho đến khi mất. Từ đó tới nay làng Cõi (Hội Am xã Cao Minh) cũng không có một tiến sỹ nào xuất hiện.

       Còn nhà khoa bảng Phạm Tri Chỉ làm quan triều Mạc chức Hữu thị lang đến cuối năm 1592. Lúc này Trịnh Tùng tiến đánh Thăng Long. Mạc Mậu Hợp thua chạy về Kim Thành (Hải Dương). Thấy thế nguy cấp, Mạc Mậu Hợp lập con là Mạc Kính Toàn lên ngôi, tự mình làm tướng thống suất quân đội. Sau các cuộc chiến đẫm máu tại khu vực các phủ Nam Sách, Hạ Hồng, Kinh Môn trong hai tháng cuối năm thì quân đội nhà Mạc chịu tổn thất nặng nề. Mạc Mậu Hợp phải bỏ trốn đến huyện Phượng Nhãn (nay là Lạng Giang, Bắc Giang), bị bắt sống sau đó ít ngày và bị hành hình. Còn Hữu thị lang Phạm Tri Chỉ chạy về đến Hoành Bồ (Quảng Ninh ngày nay) ẩn náu, một thời gian ngắn sau thì bị bắt vào đầu năm 1593. Sau đó ông quy thuận và ra làm quan trong triều cho nhà Lê trung hưng.

       Quay lại chuyện truyền thuyết cũ, sau khi biết Phạm tri Chỉ làm quan Thái giám trong triều Mạc, rồi lại ra làm quan lớn cho triều Lê, hương lý kỳ mục làng thế hệ sau tỏ ra hối hận. Nên sau khi ông mất, hội đồng kỳ mục của chính quyền địa phương đã đề nghị lên phủ Hạ Hồng đặt tên và con sông nối từ hồ Hoa (Phương) Lâm tới sông Kênh Giếc qua khu vực cầu Liễn Thâm được mang tên Thái Giám, cũng như việc xây đền, rồi tạc tượng thờ ông lấy tên đền là Thái Giám, nằm cạnh sông Thái Giám, thôn Tường Vân. Ngày nay phần lớn người dân nơi đây nghĩ rằng đền mang tên Thái Giám vì bên sông Thái Giám, chứ không hiểu nguyên nhân sâu xa hai chữ trên có xuất xứ từ đâu?

       Câu chuyện dân gian vẫn tiếp tục bởi khi Phạm Tri Chỉ về trí sỹ, vào ngày 13 tháng 11 năm Hoằng Định 7 (1607) ông quay lại quê hương thăm thú một mình, khi đến khu vực cầu Liễn Thâm hiện nay thì trời đã muộn. Ông liền vào quán nghỉ trọ để dò hỏi và sang hôm sau về quê sớm. Đêm hôm ấy ông bị cảm đột ngột và mất ở ngay gốc cây trâu cổ gần đó. Sáng hôm sau chủ quán phát hiện ra thì mối đã vùi lấp hết tử thi. Dân thôn nơi đây cho rằng đó là huyệt đất tốt, trời đã dành cho và chôn giùm nên gọi là “thiên táng”. Rồi chủ quán là người phát hiện trong túi mang theo của ông có một thẻ bài và nhận ra đây là một viên quan lớn, nên người dân nơi đây từ đó trở đi gọi chỗ mộ ông là mả đại thần quan hay mả nghè. Lúc đầu mộ chỉ đắp bằng đất, nhưng nơi đây không ngớt hương khói, do những cư dân chung quanh, môn sinh và khách buôn bán đi qua về lại chăm sóc thờ cúng vì tin rằng những âm hồn người mất rất thiêng, phù hộ độ trì cho họ sức khoẻ, làm ăn khấm khá, học hành đỗ đạt. Thời gian sau được dân lập đền thờ và mộ được xây lại khá khang trang tại khu vực ngã ba sông Chanh Dương và Kênh Giếc ngày nay.

       Từ đó tới nay, trải qua hơn bốn trăm năm, vì không biết quê quán của vị quan lớn này ở đâu, nên hàng năm cứ đến ngày hội làng thôn Áng Ngoại (11 – 13/11 âm) là các bậc trưởng lão lại ra chỗ sông sát đền lấy nước và rước chân hương từ đền thờ quan đại thần về đình làng làm lễ trước khi mở hội...

       Thời gian thấm thoắt trôi mau, đến đầu thế kỷ XX, dưới sự chủ trì của nguyên Tổng đốc Đào Trọng Kỳ, nhân dân Vĩnh Bảo tiến hành đào sông Chanh Dương nhằm tưới tiêu và vận tải bằng đường thủy cho nhân dân trong huyện. Khi đến khu vực này, thôn dân địa phương đã chuyển phần mộ của ông sang bên bờ Tả sông Chanh Dương, còn đền thờ ông được xây nhỏ hơn bên bờ Hữu song, tiện cho việc thờ phụng nằm ngay dốc cầu Liễn Thâm, thuộc thôn Áng Ngoại, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo. Cũng chính vì vậy những người làm sử Hải Phòng đã cho Phạm tri Chỉ quê thôn Áng Ngoại, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

      Trước đây trang Bắc Tạ kéo dài từ thôn Xuân Hùng đến tận đường 337 ngày nay bao gồm các thôn Bắc Tạ, Hoa (Phương) Lâm, Tường Vân, Áng Ngoại ngày nay. Đến thời Lê trung hưng và thời Nguyễn, ba thôn còn lại có đủ cơ số dân và tách thành xã (làng) riêng. Nên nếu ghi chính xác thì nhà khoa bảng Phạm Tri Chỉ, nay quê xóm Tường Vân, thôn Phương Tường, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng còn phần mộ ông tại thôn Áng Ngoại xã Trung Lập, giống như Thượng tướng quân Đô chỉ huy sử Nguyễn Tử Mach, quê thôn Phương Lâm, còn phần mộ ở thôn Hà Hương (Ho), xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo. Sau hơn bốn thế kỷ tôi là người đầu tiên phát hiện được quê ông vì tại đền Thái giám ở Tường Vân lâu nay vẫn thờ Tiến sỹ Nho học Nguyễn Bá Tùng, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông. Tôi có đùa với trưởng ban quản lý đền Thái Giám rằng: Khi các ông khấn vái và lúc hô thần nhập tượng đều gọi tên cụ là Nguyễn Bá Tùng rồi, nên tượng cụ sau sẽ chuyển cho đền Tạ Xá và tạc lại cho Tiến sỹ Nho học Phạm Tri Chỉ bức tượng khác? Và trong tôi bật ra dòng cảm xúc:

CHIA MÂY

Cạn đêm mưa gió lâm thâm 

Chợt nghe tiếng gọi xa xăm vọng về

Bàng hoàng lúc tỉnh lúc mê

Có quan Thái giám ngồi chia mây lành*

Một phần buông giữa mong manh

Bao năm đèn sách lênh đênh cuối trời

Một phần trôi giữa khơi vơi 

Chùa xưa đau đáu bao lời nhớ nhung

Một phần buông giữa mông lung

Ân sâu Áng Ngoại não lòng Chanh Dương 

Một phần trôi dọc sông thương

Thái Giám – Kênh Giếc** tới vườn làng Am…

Tìm Người cuối bến trần gian

Hoàng hôn ngả bóng buồn vàng quê xưa. 

__________

 *Thái giám thời Mạc, Lê là quan võ. Còn Tường Vân nghĩa là mây lành

**Sông chạy qua Hùng Tiến, Trung Lập, An Hòa, huyện Vĩnh Bảo

 

 

Hình ảnh có thể có: bầu trời, nhà và ngoài trời
Đền Thái Giám tại xóm Tường Vân, thôn Phương Tường, xã Hùng Tiến
  

                               NGỌC TÔ