/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

HỌ TÔ NỘI TẠ

Theo Luật pháp thì họ hàng nội tộc ngoài bốn đời có thể kết hôn với nhau, nhưng tới thời điểm hiện tại Tô tộc đã trải qua hơn chục đời,

                                                               HỌ TÔ NỘI TẠ

.
      Theo gia phả họ Tô và các thông tin mà hậu duệ ngành trưởng truyền lại thì ông Tổ họ Tô Nội Tạ tên thật là Tô Văn Trực, tên thường gọi là Tô Quý Công Phúc Trực, hiệu là Tô Công Tự Phúc Hiền, sinh năm Cảnh Hưng thứ 11 (Canh Ngọ, 1750), ngụ cư tại xã Đường Thâm, tổng Đường Thâm, đến thời Thành Thái (1886 – 1888) đời vua Nguyễn Phúc Ưng Đường, vì phải kiêng tên húy, nên chuyển thành xã Đồng Xâm, tổng Đồng Xâm (nơi có nghề chạm bạc nổi tiếng và là nơi sinh ra phu nhân Triệu Vũ Đế - Vua nước Nam Việt cổ) thuộc huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam.

        Năm 1832 trấn Sơn Nam đổi thành trấn Nam Định, đến năm 1890 huyện Chân Định đổi thành huyện Trực Định thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nay là xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, nên trong các bài văn khấn của hậu duệ họ Tô Nội Tạ đều có câu “Đồng Xâm cư ngụ”.

        Tổng Đường Thâm ngày trước có tám xã (làng): Đường Thâm, Dục Dương, Thiền Quan, Lãng Đông, Vân Cước, Diệm Dương, trang Đắc Chúng và Kim Cước. Tổng này sau khi tỉnh Thái Bình được thành lập (1890) gồm 13 xã (làng): Dục Dương, Dương Cước, Đắc Chúng, Diễm Dương, Hữu Bộc, Lãng Đông, Năng Nhượng, Tả Phụ, Thuyền Định, Thượng Gia, Thượng Hòa, Trực Tầm, Xuân Cước.

        Cái tên Đường Thâm theo nghĩa Hán có nghĩa là đường cung vua. Nơi đây một thời đã ghi dấu ấn vua Nam Việt từng sinh sống và có biệt phủ hay cung vua mà phu nhân Trình Thị, người con của quê hương Đường Thâm từng cai quản.

        Chúng tôi không tranh luận về vai trò của nhà Triệu cũng như quốc gia Nam Việt, nhưng trong Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi có câu: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập - Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hung cứ một phương”, được nhà văn Ngô Tất Tố dịch ra cách đây trên sáu mươi năm trước. Qua hai câu thơ trên ta hiểu thêm về nhà Triệu (204 – 111TCN), tương đương với thời nhà Hán (202 TCN - 220 CN).

        Vì quan hệ Việt Nam và Trung Quốc nhiều thập niên gần đây chưa được ngon nghẻ, nên nhiều người cho rằng nhà Triệu ở đây là Triệu Việt Vương (524 – 571) thuộc thời Tiền Lý (Bắc thuộc). Với hai câu thơ trên đã làm sáng lên hai mặt của xúc cảm chính trị lẫn xúc cảm nghệ thuật, mà Nguyễn Trãi đã gọt dũa từng con chữ đến độ tinh khiết. Qua bài “Bình Ngô đại cáo” ta có thể đánh giá được công lao của nhà Triệu trong việc bảo vệ và xây dựng chủ quyền đối với quốc gia Nam Việt. Vì thế tên của Triệu Đà còn được đặt cho một con phố tại phường Hiệp Phú, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh, hay đình thờ thành hoàng Triệu Đà ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên…

        Còn đền thờ Triệu Đà (thôn Bắc Dũng) cũng như đền thờ Phu nhân Trình Thị (thôn Thượng Hòa) ngay sát sông Vông, được xây dựng từ rất xa xưa thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và hàng năm cứ đến ngày mồng một:

“Tháng tư về gió vỗ niềm mơ ước

Nao nao lòng xuân cất bước hè sang

Hoa gạo rụng ven hồ chát chao đỏ 

Gọi phượng hồng nồng ấm cả không gian”
.
Hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

Các nhà văn từ phải sang tại đền Phu nhân Trình Thị tại thôn Thượng Hòa xã Hồng Thái, Kiến Xương năm 2011: Kim Chuông, Ngọc Tô, Hà Cừ và cố nhà văn Trọng Khánh.

       Là hội làng “Đồng Xâm” lại mở từ ngày mùng một đến hết ngày mùng ba tháng tư Âm lịch. Vào chiều ba mươi tháng ba, sau khi tế ở đền Trình Thị, người ta rước tượng Đức bà lên kiệu về đền Triệu Vũ Đế, tượng Đức bà được đặt bên cạnh tượng Đức ông trong suốt mấy ngày hội. Hội tan, dân làng lại tổ chức rước bà hoàn cung. Hội đền Đồng Xâm thường có nhiều lễ thức, trò chơi, trò diễn, trò đua tài cuốn hút nam nữ trong vùng tham gia như: Đấu roi, đấu vật, hát chèo, hát ca trù... Sôi nổi nhất là cuộc đua thuyền trên sông Vông. Trong thời gian diễn ra lễ hội, các sản phẩm chạm bạc của làng cũng được trưng bày và bán làm làm đồ lưu niệm cho du khách thập phương để giới thiệu và quảng bá về nghề truyền thống đã tồn tại từ thời xa xưa...

        Vào thời Lê trung hưng, cậu bé Tô Văn Trực sinh ra và lớn lên tại một gia đình hàn Nho, có gương mặt sáng, nước da trắng hồng, giọng sôi nổi, cởi mở. Vì nhà nghèo, bố mẹ mất sớm, nên cậu phải đi cày thuê cuốc mướn để kiếm sống ở nhiều làng xã thuộc trấn Sơn Nam và số phận đã trôi dạt về mảnh đất Đường Thâm (nay là thôn Bắc Dũng và Nam Hòa xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương) làm con nuôi cho một gia đình họ Nguyễn. Với đức tính khiêm nhường, gần gũi, ý chí tự lập mạnh mẽ cộng với sự hiếu học và thông minh nên cậu bé Trực được bà con làng tổng thương yêu đùm bọc. Chẳng mấy chốc Tô Văn Trực đã trở thành trang nam tử sức khỏe hơn người, võ nghệ tinh thông ở một vùng quê lúa nước đồng bằng Bắc Bộ.

 

Hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng và ngoài trời

 Từ trái sang là Ngọc Tô,  ông Từ đền Đồng Xâm, Hà Cừ và Kim Chuông tại đền Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình năm 2011

        Khi đất nước xảy ra chiến tranh, chính quyền địa phương lựa chọn các trai tráng được gọi là “tráng hạng” hay “tráng đinh” và  chàng thanh niên Tô Văn Trực được chọn vào lực lượng vũ trang từ năm Cảnh Hưng thứ 29 (1768) thuộc quân ngoại binh. Hồi đó có sáu quân doanh là Trung dực, Trung uy, Trung thắng, Trung khuông, Trung nhuệ, Trung tiệp, mỗi doanh 800 người. Các binh chủng hồi ấy gồm Bộ binh, Thủy binh, Kỵ binh và Pháo binh. Đặc biệt thời ấy lực lượng kỵ binh và thủy binh khá mạnh. Theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes có mặt ở đàng Ngoài ghi: “Chúa Trịnh có nhiều đội thuyền chiến với lực lượng đông đảo, chiến thuyền dài có 24 – 40 tay chèo mỗi bên; các chiến thuyền đều có đủ vũ khí và súng ống cần cho việc giao chiến. Tàu thuyền nào cũng có một khẩu súng nhỡ ở mũi thuyền và hai khẩu súng ở đuôi thuyền. Về binh lính, họ rất thành thạo sử dụng mọi vũ khí, với súng tay và súng hỏa mai, họ sử dụng rất thiện nghệ”

        Hay trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ tục biên ghi nhận thời Nam Bắc triều, quân Trịnh theo phò nhà Lê có lực lượng kỵ binh khá mạnh. Và, người lính Tô Văn Trực được bổ sung vào binh chủng Kỵ binh, phải rong ruổi đến cạn mòn trên khắp núi rừng Tây Nam, lúc chiến đấu với quân thù ở các tỉnh miền Trung ở đàng Ngoài, đặc biệt là các vùng biên giới. Vào thời gian này đất nước bị chia cắt, chiến tranh giữa nhà Trịnh ở đàng ngoài và nhà Nguyễn ở đàng Trong, ngoài ra còn phải chống đối với các thế lực ngoại bang, nên thời gian phục vụ quân đội của người lính bị kéo dài không có giới hạn.

        Có lần một mình ông phải chống chọi với trận giao tranh tại khu vực biên giới trấn Nghệ An khi tiến khi lui, lúc cố thủ, vượt qua trận kịch chiến với quân thù và phá tan được vòng vây của giặc. Sau các trận chiến ông được cất nhắc lên cấp lãnh đạo cao hơn theo ngạch võ quan. Thoạt đầu ông làm Chánh đội trưởng suất đội, rồi những kế sách việc quân, những cải tổ quân doanh của ông rất hiệu quả, cộng với sự mưu trí dũng cảm trong các trận chiến, ông được bổ làm Phó Quản cơ, rồi Trung nhuệ quân doanh... Vào thời gian này ông được cấp điền trang ở triền Tả sông Hóa thuộc xã Nội Tạ, tổng Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Và được gia đình họ Nguyễn Nội Tạ nhận làm người đỡ đầu, rồi kết hôn với bà Nguyễn Thị Đại (chi phái nhà cụ Nguyễn Thắng Huy, thường gọi là cụ Lý Huy hay cụ Tiên Đội) vào thập niên 70 thế kỷ XVIII...

        Trong thời gian phục vụ trong quân ngũ, ông còn thương thầm trộm nhớ “bông hồng xanh biêng biếc, quê Phủ Dày (Vụ Bản – Nam Định ngày nay) với dáng vẻ kiều diễm, nụ cười tỏa nắng, ánh mắt như nước mùa thu:

“Tóc dài thắt đáy lưng ong

Trăm thương ngàn nhớ phập phồng chiêm bao?”

       Rồi tình yêu đến với ông lúc nào không biết. Bà không chỉ là người bạn đời mà còn là đồng nghiệp phụ trách công tác hậu cần của quân doanh, góp nhiều công sức cho lực lượng vũ trang thời bấy giờ.

        Năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774) nhân chuyến ra công tác tại Thăng Long, ông mang theo “bông hồng xanh xinh đẹp đó để ghé về quê ra mắt dân làng. Lúc vừa qua làng Sưa (Lô Đông ngày nay) một đoạn ngắn thì trời đã vào đêm, xuất hiện quán trọ ngay sát đường đầu làng Si (Từ 1959 tới nay chỗ đất này do nhà ông Trương Công Cùi và bà Phạm Thị Giới, nay là khu đất của bác Trương Công Đức cùng Trương Công Hậu quản lý), ông để bà tạm nghỉ ở đây, còn mình về làng bàn bạc với họ hàng để hôm sau lên đón dâu. Nhưng đêm hôm định mệnh ấy:

“Gió gào thét, trời mịt mùng dông tố 

Chớp loằng nhoằng tiếng sét nổ inh tai

Cành sộp xanh nằm bên đường đau đớn

Mưa rơi hoài nặng trĩu xé lòng ai”

        Do phải di chuyển quãng đường quá xa, phương tiện duy nhất thời ấy là thuyền, còn lại phải cuốc bộ, cộng với thời tiết nắng mưa bất chợt, bà lại đang mang thai nên bị cảm đột ngột và qua đời vào đêm ngày 15 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774) đời vua Lê Hiển Tông.

        Sáng hôm sau trời quang mây tạnh, mọi chuyển động hình như chầm chậm trôi, dấu vết của trận cuồng phong đêm qua đã để lại nỗi buồn vô hạn lên từng khuôn mặt các thành viên họ nhà trai. Khi tới nơi thì điều bất ngờ xảy ra: Mối đã đùn lên một đống lớn lấp kín cả thi thể cụ bà... Rất ngạc nhiên về hiện tượng trên, mọi người cho rằng bà là “người Giời”, là “Thần Thổ địa”, nên bà đã hóa thân mình vào huyệt đất thiêng và dân gian gọi là “Thiên táng”. Theo tương truyền những gia đình có “Thiên táng”, tương lai dòng tộc đó sẽ thịnh vượng, phát đạt đặc biệt là đường khoa cử. Vì vậy mộ cụ bà cứ để nguyên mà bồi đất cao, không ngớt hương khói do con cháu họ Tô cùng những thôn dân xung quanh và khách thập phương đi qua về chăm sóc thờ cúng. Sau đó đền thờ mang tên “Thổ Thần” được xây dựng, tượng cụ bà được tạc bằng gỗ thơm đặc biệt (theo gia phả họ Tô và ông Trần Công Cùi truyền lại là ngay sát đền có cây sộp sum suê và cây cọ cao).

        Đền thờ Thổ Thần sau một thời gian ngắn đã rất linh ứng và anh linh của Thần dần dần thâm nhập sâu vào đời sống tâm linh của tất cả các thành viên họ Tô Nội Tạ cũng như người dân địa phương. Dù người dân sống ở nơi đây hoặc đi làm ăn xa tại các miền đất khác, mỗi khi về quê thường đến đền Thổ Thần để tỏ lòng thành kính, cầu xin được bình an, che chở. Nếu có việc oan ức thì thường cầu xin Thần chứng giám gặp dữ hóa lành, giáng họa trừng phạt những kẻ độc ác vô luân... Thần còn là lực lượng tiếp sức cho dân trong các cuộc chống ngoại xâm, dập tắt thiên tai dịch bệnh bằng con đường âm phù.

        Theo gia phả của họ Tô Nội Tạ thì tên thần của của cụ Tổ bà Nguyễn Thị Biêng là Anh Linh Thổ Kỳ. Đến nay Nghĩa Lý còn giữ được một sắc phong thuộc đời Khải Định thứ 9 (1924):

 PHIÊN ÂM:

 Sắc Hải Dương tỉnh, Vĩnh Bảo huyện, Nghĩa Lý xã phụng sự Anh linh thổ kỳ tôn thần, hộ quốc tý dân nhẫm trứ linh ứng tứ kim chính trực.

 Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật trứ phong vi Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn thần, chuẩn kỳ phụng sự, thần kỳ tương hữu bảo ngã lê dân. 

Khâm tai!

 Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

 DỊCH NGHĨA:

 Sắc cho xã Nghĩa Lý, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương lâu nay thờ phụng Anh linh thổ kỳ tôn thần hộ quốc tý dân, linh ứng đã rõ.

 Trẫm nhân việc mừng thọ tuổi 40, mở lễ đại khánh tiết, vẫn giữ phong cho thần là Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn thần, cho phép dân làng được thờ phụng như trước.

 Mong thần hãy che chở và giúp đỡ cho dân lành của Trẫm.

 Hãy tuân theo sắc lệnh này.

 Ngày 25/07/ Khải Định thứ 9 (1924).

        Ông Trương Công Cùi (người hương khói đền Thổ Thần hay gọi là đền Nữ Trung Anh) và nhà giáo Tô Văn Thủy lúc còn sống kể lại thì trong đền Nữ Trung Anh, ngoài pho tượng gỗ cụ bà ra còn hai pho tượng thị tỳ (hầu gái). Cũng có ý kiến khác cho rằng đó là hai con gái của Thần khi Thần đang mang thai, mà cả ba người đều hóa thân mình vào ruột đất.

        Vào một đêm nọ có người làng Nghĩa Lý tên là Đào Viết Viết vào đền lấy trộm hai pho tượng thị tỳ, rồi sáng sớm hôm sau đem đi chợ Lầy (An Ninh, Quỳnh Phụ, Thái Bình) bán. Không biết trời xui đất khiến thế nào, hậu duệ ngành trưởng họ Tô Nội Tạ cũng có mặt tại phiên chợ hôm đó thấy thế đã bỏ tiền ra chuộc lại. Chẳng biết sao, người họ Đào Viết kia biết, ngay đêm hôm đó đã thắt cổ tự tử ngay cạnh đền Nữ Trung Anh và các bậc cao niên ở Nghĩa Lý cho rằng vào lấy trộm tượng hầu của Cụ nên bị Cụ phạt… Đây cũng chỉ là một trong muôn vàn trường hợp về sự linh ứng của ngôi đền Thổ Thần mà thôi...

          Cuộc đời ngắn ngủi của Thổ Thần, cựu chiến binh Nguyễn Thị Biêng là tấm gương sáng cho các hậu duệ họ Tô Nội Tạ và người dân địa phương noi theo. Khi nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của nữ chiến binh này, bao cảm xúc trong tôi cứ trào dâng: 

Một phu nhân Tô tộc tới làng Si

Thành thổ thần hơn hai trăm năm trước

Người gốc thành Nam ai nào có biết?

Nữ chiến binh trong trận chiến chống thù

 

 Giữa đêm tháng ngâu bất chợt gió mưa

 Người hóa thân mình vào trong lòng đất

Che chở cho dân giải bao oan khuất

Giúp mùa tốt tươi mưa thuận gió hòa

 

 Sắc hiệu Vua ban ngày một loang xa

 Tôn thần làng Si cũng như làng Nội

 Đường thời gian điệp trùng muôn diệu vợi

 Cùng Đức Tô giữ vùng đất yên bình

 
Cho tháng năm dằng dặc mãi tươi xanh

Giấc chiêm bao nảy chồi non lộc biếc

Bồi lắng vỉa đời dày thêm trầm tích

Và nụ cười thêm tuổi mỗi thần dân?”...
.

Hình ảnh có thể có: bầu trời, nhà và ngoài trời
               Từ đường họ Tô Nội Tạ 

        Sự mất mát không thể gì bù đắp khi người bạn đời về với thế giới bên kia “Nỗi đau úa bến trần gian. Sộp đôi ai thít khăn tang trắng đầu”, thì võ quan Tô Văn Trực nén đau thương thành hành động, quay lại đơn vị tiếp tục chỉ huy quân doanh của mình để bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Tây Nam của Tổ quốc. Trong quá trình chiến đấu với thù, lực lượng quân doanh do ông chỉ huy đã giành nhiều chiến công vang dội. Vào năm Cảnh Hưng 44 (1783) mấy tỉnh miền Trung đàng Ngoài gặp cảnh “thóc cao gạo kém”, nạn đói tràn nan, đời sống nhân dân cũng như người lính gặp vô vàn khó khăn, đặc biệt ở vùng biên giới, võ quan Tô Văn Trực đã cùng với một số võ quan khác chia nhau đi tới các bản làng để quyên tiền, vàng bạc, thóc gạo của các nhà giàu để chẩn cấp cho dân. Qua cách làm sáng kiến của ông ngân sách của quân doanh đã tăng lên đáng kể và tiếng tăm của võ quan Tô Văn Trực càng được vang xa. Ông không chỉ là một người chỉ huy dũng mãnh, cơ mưu trong lực lượng vũ trang thời Lê Trung hưng, mà còn là người có tâm làm việc thiện được quân doanh và thần dân quý trọng...  

        Cuộc đời binh nghiệp của ông đến hết triều Lê Trung Hưng làm quan tới chức Tả Đô đốc Trung quân phủ thì giải ngũ về ở ẩn tại quê nhà vì sự chuyển giao chế độ chính trị lúc bấy giờ từ nhà Lê sang nhà Tây Sơn. Nhưng với bản lĩnh của người lính và ý chí vươn lên trong cuộc sống ông đã mở lớp dạy chữ cho thôn dân và song song hoạt động trong lĩnh vực “trị bệnh cứu người”. Trong nhiều năm phục vụ quân ngũ, qua nhiều vùng đất khác nhau từ biên giới phía Bắc cho tới biên giới Tây Nam, cộng với niềm đam mê để trở thành thày thuốc, nên ông tìm được khá nhiều bài thuốc, vị thuốc hay và học được cách chữa bệnh của một số lang y có tiếng, đặc biệt là những thày thuốc trong quân doanh thời bấy giờ. Lúc này ông trở thành nhà Nho và “thày lang” có tiếng tại địa phương. Người dân gặp vấn đề gì về sức khỏe đều được ông tư vấn, chữa trị bằng những thang thuốc Nam, thuốc Bắc hoặc các bài dưỡng sinh khá hiệu nghiệm. Tiếng tăm nhà Nho cũng như lang y của ông được lan rộng khắp vùng với cái tâm trong sáng, luôn được nhân dân nể trọng và yêu mến. Ông mất ngày 08 tháng giêng năm Minh Mạng thứ 5, thọ 74 tuổi.

        Theo nguyện vọng của cựu võ quan Tô Văn Trực, sau khi mất thì sẽ chuyển một bát hương lên thờ tại đền Thổ Thần, Nghĩa Lý cùng với người bạn đời của mình. Hai cụ là những cựu chiến binh, có công với đất nước, đặc biệt cụ ông còn là võ quan, nên được người dân trong vùng ngưỡng mộ. Đền thờ Thổ Thần ngày càng linh thiêng và anh linh của hai cụ đã thấm đẫm vào đời sống tâm linh của hậu duệ họ Tô Nội Tạ và người dân quanh vùng.

        Trải qua những thăng trầm của lịch sử và sự “gặm nhấm” của thời gian, đền thờ Thổ Thần ở Nghĩa Lý bị xuống cấp. Đến thời hậu duệ thứ sáu họ Tô Nội Tạ gồm các cụ: Tô Văn Tiệp, Tô Văn Rực, Tô Văn Nhuận, Tô Văn Tân, Tô Văn Hán, Tô Văn Luyện, Tô Bá Thiệu đã trùng tu lại khá bề thế, khang trang. Tường xây bằng gạch Bát Tràng, lợp ngói mũi với diện tích gần một thước ta. Rồi tiếp theo là chiến tranh chống Pháp bước vào giai đoạn ác liệt nhất, giặc về càn quét bắt phá đền, lấy gạch nộp xây bốt Hà Phương, các hậu duệ đời thứ sáu họ Tô Nội Tạ đã chuyển rương, tượng, sắc phong vào đình Nghĩa Lý, sau đình xuống cấp thì chuyển sang chùa Nghĩa Lý thờ phụng.

        Rồi vào những năm chiến tranh chống Mỹ và thời kỳ bao cấp cuộc sống của nhân dân miền Bắc gặp nhiều khó khăn, cơ cực. Gạo, ngô còn không đủ ăn một bữa, nói gì đến các việc xây dựng lại đền. Cộng với sự hà khắc của luật “chống mê tín dị đoan”, nên không một dòng tộc nào, địa phương nào dám xây mới, trùng tu các công trình văn hóa của dòng tộc mình, của địa phương mình. Sau đó đền thờ Thổ Thần Nữ Trung Anh được ông Trương Công Cùi và các hậu duệ họ Tô làm lại bằng tre một đôi lần và rương, tượng, sắc phong vẫn gửi ở đình chùa Nghĩa Lý.

        Theo gia phả của họ Tô Nội Tạ, tên thần của võ tướng Tô Văn Trực là Diệu Ứng Mỹ Âm. Đến nay Nghĩa Lý còn giữ được một sắc phong thuộc đời Khải Định thứ 9 (1924):

Không có mô tả ảnh.

 PHIÊN ÂM:

Sắc Hải Dương tỉnh, Vĩnh Bảo huyện, Nghĩa Lý xã phụng sự Cảnh Linh Diệu Ứng Mỹ Âm tôn thần, hộ quốc tý dân, nhẫm trứ linh ứng, tứ kim chính trực.

Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Trứ phong vi Túy Mục, Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng thần, chuẩn kỳ phụng sự, thần kỳ tương hữu bảo ngã lê dân.

 Khâm tai!

 Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

 DỊCH NGHĨA

Sắc cho xã Nghĩa Lý, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương.

Địa phương thờ phụng Cảnh Linh Diệu Ứng Mỹ Âm tôn thần, hộ quốc tý dân lâu nay linh ứng đã rõ.

Trẫm nay nhân mừng thọ tuổi 40, mở lễ đại khánh tiết gia ân vẫn phong cho thần là Túy Mục Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng thần. Cho phép dân làng tiếp tục thờ phụng như trước.

Mong thần hãy che chở và giúp đỡ cho dân lành của Trẫm.

Hãy tuân theo sắc lệnh này.

Ngày 25/07/ Khải Định thứ 9 (1924).

        Sau hơn bốn mươi năm kể từ ngày đền thờ Thổ Thần Nữ Trung Anh bị tàn phá, đến tháng giêng năm 1992 được ông Tô Bá Tịu, hậu duệ đời thứ bảy sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh đã về xây lại với quy mô khá khiêm tốn trên nền đền cũ như ngày nay. Nóc đền vẫn ghi ba chữ Nho, nghĩa là: Nữ Trung Anh. Còn hai bên là hai câu đối: Họ Tô Văn tu tạo – Đền Nghĩa Lý linh thiêng.

        Thời gian vun vút trôi, hậu duệ họ Tô Nội Tạ phát triển nhanh chóng, làm ăn phát đạt, có chí học hành và thành danh ở nhiều đời kế tiếp nhau. Các đời trước chúng tôi chưa có tư liệu, nhưng theo gia phả họ Tô Nội Tạ thì từ hậu duệ đời thứ ba Tô Văn Lộc thường được gọi là cụ Hậu già, một tri thức, có tư chất và giữ chức sắc nhiều năm trong làng tổng. Sang hậu duệ đời thứ tư của ngành trưởng là Tô Văn Tuệ (thường gọi là cụ Hậu trẻ) tham gia quân đội thời nhà Nguyễn, từng làm tới chức Hữu Đề đốc doanh quân. Khi về trí sỹ ruộng có trên ba trăm mẫu, đi từ cống Gạo đến chợ Gừng không phải nhờ đất của người khác. Đi đâu quan Hữu Đề đốc cũng một bước lên ngựa, hai bước lên xe và lúc nào mang theo bát bạc cùng đũa kim giao của mình theo. Lúc ông mất, xác còn được quàn một trăm ngày trong quan tài gỗ vàng tâm ba lớp đặt tại lăng được xây dựng tại vườn nhà (chỗ đất giáp danh giữa vườn ngoài nhà ông Tô Văn Thủy, vườn sau nhà ông Tô Văn Phiếu và vườn nhà ông Tô Văn Hiếu). Tuần nào cũng mổ trâu hay giết bò khao cả làng và câu nói “Cả làng hôm ấy không khói” còn đọng mãi đến bây giờ.

        Rồi sang hậu duệ đời thứ năm là Quản cơ Tô Văn Hoàn thường gọi là Điển Hoàn “một mình một ngựa” vào thế kỷ XIX. Các hậu duệ họ Tô Nội Tạ về sau vẫn phát huy được truyền thống hiếu học, tham gia giữ gìn nền độc lập tự do của Tổ quốc và giữ nhiều các chức vụ quan trọng trong chính quyền cũng như trong các tổ chức xã hội. Có khá nhiều hậu duệ Tô tộc được phong chức tước trong quân ngũ thời phong kiến như các ông: Tuyển Cổn, Đội Chẩn (Đội Thanh), Tuyển Hảo, Quản Nghi, Cai Kiệu, Cai Khôi...

        Trong những năm tháng diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn ác liệt nhất, Huyện ủy, UBND huyện Vĩnh Bảo rút vào hoạt động bí mật từ đầu năm 1950 đã được đặt trụ sở tại khuôn viên nhà bà Vũ Thị Sâm, chồng là ông Tô Bá Kiệu, thường gọi là ông Hội Thứ (cạnh ao du kích sau này) để lãnh đạo phong trào kháng chiến cho cả vùng. Như vậy mảnh đất gia đình của hậu duệ họ Tô Nội Tạ còn là một căn cứ địa cách mạng cho Huyện ủy, UBND huyện Vĩnh Bảo, mà lâu nay nhiều người chưa biết đến, lịch sử Đảng bộ huyện chưa nhắc tới...

        Kể từ cách mạng tháng 8 năm 1945 tới nay, những hậu duệ ở quê vẫn giữ các chức vụ cao trong làng xã như ông Tô Văn Khánh từng làm Chủ tịch UBND, Bí thư Đảng ủy xã từ rất sớm, ông Tô Văn Oanh từng làm Phó Chủ tịch UBND xã, trưởng tộc Tô Văn Mai vào Đảng lớp đầu tiên, từng làm Bí thư Chi bộ Đảng từ thời kỳ sơ khai, bác Tô Bá Khởi từng làm Phó Chủ tịch UBND xã…

        Sau ngày giải phóng đất nước tới nay các hậu duệ họ Tô Nội Tại đều siêng năng lao động, học tập và công tác. Có nhiều người thành đạt trong các cơ quan quản lý Nhà nước, trong lực lượng vũ trang, trong sản xuất kinh doanh, trong văn hóa nghệ thuật,... ở trong nước cũng như nơi “đất khách quê người”...

        Hiện các hậu duệ họ Tô Nội Tạ có hàng trăm người đã tốt nghiệp đại học cũng như trên đại học, đã lập nghiệp, sinh sống và đang học tập trên khắp các châu lục và trên ba miền của dải đất hình chữ S. Được thừa hưởng truyền thống quý báu của dòng tộc và phúc đức bên ngoại họ Nguyễn, các hậu duệ đều có đức tính hiền lành, cần mẫn lao động, hiếu học, sống hết lòng vì mọi người, để lại tiếng thơm cho đời sau.

        Cụ Tổ họ Tô Nội Tạ sinh được ba người con trai, đại diện cho ba ngành: Tô  Văn Chính, Tô Văn Tực và Tô Văn Thực (về ngành nữ chúng tôi chưa có số liệu).  Họ Tô Nội Tạ có tên đệm truyền thống là Văn, nhưng đến hậu duệ đời thứ 5 ngành trưởng có cụ bà là em cụ Tô Văn Tợi, cụ Tô Văn Tạc kết hôn với Phó Chánh tổng Nguyễn Thắng Văn (thường gọi là cụ Tổng Văn) và cũng đời thứ 5 (ngành út) có cụ lấy tên là Văn (Tô Văn Văn) kết hôn với cụ Nguyễn Thị  Dung con cụ Lý Đội ở Tạ Ngoại (chi phái nhà ông Thiềng), nên một số hậu duệ đời sau của ngành trưởng và ngành út lấy tên đệm là Bá.

       Theo Luật pháp thì họ hàng nội tộc ngoài bốn đời có thể kết hôn với nhau, nhưng tới thời điểm hiện tại họ Tô Nội Tạ đã trải qua thập đại (10 đời), nhưng các hậu duệ vẫn giữ được tình anh em, tình họ hàng và khối đoàn kết trong dòng tộc, chưa phá vỡ quy luật hôn nhân. Đây cũng là điểm sáng của họ Tô Nội Tạ,...Với góc nhìn của người    

                                                      NGỌC TÔ