/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

CÁC NHÀ KHOA BẢNG (TIẾN SỸ NHO HỌC) HUYỆN VĨNH BẢO

Mong rằng những nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử khác sẽ tìm kiếm bổ sung thêm vào danh sách các nhà khoa bảng của mảnh đất “Bảo vệ vĩnh viễn”.

CÁC NHÀ KHOA BẢNG (TIẾN SỸ NHO HỌC) HUYỆN VĨNH BẢO
.

       Khi phát hiện ra sự nhầm lẫn một số Tiến sỹ Nho học của huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương sang huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng, trong tôi đã có linh tính là một số nhà khoa bảng của huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng sẽ bị nhầm sang huyện Tứ Kỳ cũng như một số huyện khác của tỉnh Hải Dương và ngược lại. Chúng tôi đành lần lượt xem lại kỹ gần 3.000 các nhà khoa bảng ở nhiều tài liệu khác nhau của trung ương và địa phương để có thể tìm ra một số nhà khoa bảng cho mảnh đất “Bảo vệ vĩnh viễn” với rất nhiều khó khăn…

        Chính những nhà biên soạn sách đôi lúc cũng chưa dám khảng định một số nhà khoa bảng kia là người của huyện Vĩnh Bảo hay của huyện Tứ Kỳ hay của huyện Kim Môn… và nhiều trường hợp có một vài nhà khoa bảng mà cả hai làng của hai địa phương đều nhận là người của quê hương mình. Hay có những làng xã, dòng tộc khi viết lịch sử hay viết về gia phả của mình cứ “thêm mắm thêm muối”, làm những người đi tìm phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” để có được đáp số về các nhà khoa bảng và các chức danh đã ghi. Vì thế nhiều cuộc tranh luận nảy lửa xảy ra, nhưng dẫu sao ta vẫn phải dựa vào các chứng cứ khách quan, khoa học để giải thích đúng sai?

        Trong cuốn sách Trạng nguyên Tiến sỹ Hương cống Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin năm 2002 có ghi: Nguyễn Duy Tinh, người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh (cùng khoa thi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Làm quan tới chức Thừa Chính sứ.

        Nguyễn Bá Tùng, người làng Tạ Xá huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng (cùng quê với Nguyễn Duy Tinh). Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông (cùng khoa thi với Trạng nguyên Lê Ích Mộc).

        Và, sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919” xuất bản năm 2006  ghi: Xã Tạ Xá xem chú thích Nguyễn Bá Tùng cùng xã với Nguyễn Duy Tinh. Và, chúng tôi lần theo dòng chú thích kia: Theo Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục và Đăng khoa lục sưu giảng ghi tên xã Tạ Xá. Rồi trong Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục còn ghi thêm tên xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ. Thông qua một nhà sử học người Tứ Kỳ, chúng tôi đã biết được thôn Lạc Dục thuộc xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ gần thành phố Hải Dương ngày nay. Nhưng để xác minh được đây có phải là tên cổ xưa hay tên mới có thì là chuyện không hề đơn giản.

        Cách đây mấy năm, vào một ngày hè nóng như thiêu như đốt, nhân có việc ở Báo Hải Dương, mấy anh em tôi làm chuyến chu du tới xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ. Lúc qua Trạm Y tế xã Hưng Đạo, tôi mới ghé qua hỏi một thày thuốc trẻ:

-         Bác sỹ chỉ giúp đường tới thôn Lạc Dục?

-         Các chú hỏi có việc gì? Người thày thuốc trẻ hỏi.

-         À, chúng tôi là mấy anh em nhà văn muốn tìm hiểu văn hóa làng quê và đang đi tìm quê gốc cho mấy nhà khoa bảng từ thế kỷ XVI. Tôi trả lời.

-         Cháu cho các chú số máy của bác “Già làng” để các chú hỏi. Người thày thuốc trẻ trả lời.

          Qua số điện thoại mà người thày thuốc cho, chúng tôi đã tới được Lạc Dục. Đây là một địa danh nằm sát ngay sông Thái Bình và có bề dày văn hóa. Rất may cho đoàn là cán bộ thôn rất nhiệt tình và 6 sắc phong của Lạc Dục vẫn còn được giữ nguyên vẹn. Chúng tôi cẩn thận nhìn từng sắc phong một, từ niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1886), Duy Tân 3 (1909) đến Khải Định 9 (1924) đều ghi: Sắc cho Hải Dương tỉnh, Tứ Kỳ huyện, Nghĩa Xá tổng, Lạc Dục xã. Trong đầu tôi đã có tư tưởng đây không phải là quê gốc của hai Tiến sỹ kia. Kết hợp với các yếu tố khác, chúng tôi dùng phương pháp loại trừ thì nhà khoa bảng Nguyễn Duy Tinh và nhà khoa bảng Nguyễn Bá Tùng là người quê gốc thuộc huyện Vĩnh Bảo.

          Theo một số tài liệu cổ ghi xã Tạ Xá trước đây thuộc tổng Bắc Tạ hay Đông Tạ. Trong tôi một kỷ niệm khó quên bật ra: Vào năm 2014 khi viết cuốn sách về nhà cách mạng Nguyễn Văn Ngọ, tôi đã tới xã Tạ Xá, tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh (nay là thôn Tè, xã Hợp Tiến, huyện Nam Sách, Hải Dương), một căn cứ cách mạng quan trọng của liên tỉnh B (Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hồng Quảng) và là nơi ra đời của cơ sở Đảng tỉnh Hải Dương. Từ manh nha này chúng tôi thấy chữ Tạ có nghĩa là cảm ơn, tên Nôm là Tè, còn chữ Xá theo nghĩa Hán là làng, nên Tạ Xá có nghĩa là làng Tạ và người dân địa phương gọi tắt là làng Tè.

          Sau nhiều năm tìm hiểu bằng các tài liệu cổ và đi thực tế tất cả các vùng đất thuộc Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Bảo mang tên Tạ, đến nay mới có lời giải đáp và hai nhà khoa bảng Nguyễn Duy Tinh cùng Nguyễn Bá Tùng là người thuộc trang Tạ Xá châu Hạ Hồng, nay là thôn Tạ Ngoại và thôn Nội Tạ, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

       Hay một trường hợp khác về Nguyễn Đình Tộ (1482 - ?) và Nguyễn Sư Khanh (1566 - ?) đều đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, hai ông cháu là người xã Đông Quất, tổng Can Trì, huyện Tứ Kỳ. Nhưng trong sách “Tiến sỹ Nho học Hải Dương” xuất bản năm 1999, lại ghi nay là thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương.

        Chúng tôi phải bới lục hết các tư liệu ở các cơ quan lưu trữ Nhà nước để tìm được 03 tấm bản đồ huyện Tứ Kỳ, Ninh Giang và Vĩnh Bảo vào thời vua Tự Đức. Khi xem hết các xã tổng thì huyện Tứ Kỳ chỉ có một xã Đông Quất thuộc tổng Can Trì mà thôi. Để cho chắc chắn, chúng tôi lại tức tốc tới thôn Phương Quất xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ nằm gần giáp với tỉnh lỵ Hải Dương, nhưng chuyến đi chưa thu được kết quả gì khả quan. Một tuần sau chúng tôi tiếp tục về thôn Tràng (Đông Quất xưa), xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo thì biết Thiếu tướng Nguyễn Văn Tương và bác sỹ Nguyễn Tài Tê là cháu đời thứ 18 của nhà khoa bảng Nguyễn Đình Tộ và phần mộ của các cụ được quy tụ tại khu nghĩa trang của thôn. Khi chúng tôi ra đình Tràng (thờ Nguyễn Sư Khanh) vẫn còn đôi câu đối: “Lưỡng quốc bá phương danh, Tiến sỹ xuất thân, Bắc triều phụng sứ; Thiên thu long tự điển, dực ngôn dựng tú, Đông nhạc chung linh”.

Tạm dịch nghĩa là:

“Hai nước nức tiếng thơm đỗ Tiến sỹ, đi sứ Trung Quốc, ngàn năm tên lưu trong sách, văn chương hàng cứng cỏi núi Đông hun đúc khí thiêng”.

Ở làng Đông Quất (nay là Tràng) còn lưu truyền bài ca có câu: 
“Hiệu Hồng Ninh thứ hai năm ấy

Khoa Nhâm Thìn tiến sỹ rành rành

Văn nhân tài tử đua tranh

Thứ ba, ông Nguyễn Sư Khanh bảng đầu

       Đây cũng là những minh chứng để khảng định lại xã Đông Quất thuộc tổng Hu Trì, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng là quê gốc của hai nhà khoa bảng trên.

        Hay theo Từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng thì trường hợp ông Nguyễn Duy Minh (1462 - ?), người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang. Có tài liệu khác ghi Nguyễn Duy Minh, người xã Hà Trường, huyện Giáp Sơn. Nay là thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

        Khi xem qua hai cuốn sách khác của Trung ương và cuốn “Tiến sỹ Nho học Hải Dương” xuất bản năm 1999 đều ghi Nguyễn Duy Minh sinh năm 1468, người xã Hà Trường, huyện Giáp Sơn. Nay là thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương. Đỗ Đệ tam đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang.

        Chúng tôi lại rồng rắn kéo nhau về Hà Dương, Cộng Hiền, Vĩnh Bảo xem sao. Tại địa phương này vẫn còn nhiều nhánh của họ Nguyễn, nhưng chưa nhánh nào có minh chứng khoa học để khảng định Tiến sỹ Nho học Nguyễn Duy Minh là người làng này. Chúng tôi đành tiếp tục khởi hành đến thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn. Đây là một xã cách không xa đường 5, nằm dọc theo sông Kinh Môn. Vòng vèo một lúc vẫn chưa tìm được địa chỉ, tôi lại vào ngay Trạm y tế xã Thăng Long để hỏi đường. 

-         Nhờ bác sỹ chỉ giùm đường tới thôn Hà Tràng? Tôi hỏi.

-         Các chú về đó có việc gì quan trọng không? Cô bác sỹ trẻ hỏi.

-         Chúng tôi là mấy nhà văn đi tìm quê cho Tiến sỹ Nguyễn Duy Minh thời thế kỷ XV. Tôi trả lời.

-         Tưởng các chú đi dạm ngõ cho con trai, chứ việc này cháu cho các chú số của Lãnh đạo xã là người Hà Tràng. Cô bác sỹ trẻ nói.

          Qua số điện thoại của vị lãnh đạo xã Thăng long chúng tôi đến được thôn Hà Tràng và gặp được ông Nguyễn Minh Dụ. Do tuổi tác đã cao, cụ nghe câu được câu chăng và nói:

-         Ông Nguyễn Duy Minh thờ ở đình làng chứ có thờ ở nhà tôi đâu.

Chúng tôi cảm ơn và đi tham quan làng Hà Tràng. Vì thời gian có hạn, chúng tôi cũng chưa tìm được những minh chứng để để khảng định được Tiến sỹ Nho học Nguyễn Duy Minh là người thôn Hà Tràng, xã Thăng Long. Việc này cần phải sự vào cuộc của hai địa phương.

          Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện thêm được nhà khoa bảng Đặng Duy Minh (1551 - ?), người xã Tranh Khê, tổng An Bồ, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Tranh Nguyên, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo.  50 tuổi đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hoằng Định 6 (1604) đời Lê Kính Tông. Làm quan đến chức Đô cấp sự trung.

          Khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Thái úy Tô Hiến Thành, người có công lớn trong việc khai khẩn vùng đất Vĩnh Bảo, chúng tôi tìm thấy ông là Tiến sỹ Nho học thời Lý. Và trong quá trình “mò kim đáy bể” này đã phát hiện ra hai nhà khoa bảng là Đỗ Lương Tướng và Đỗ Thân Không là anh em ruột, quê thôn Phúc Lâm, lộ Hồng, nay là thôn Nam Tạ, xã Tân Hưng, đỗ khoa thi Thái học sinh thời Trần. Thôn dân Phúc Lâm vinh danh hai ông là Thành hoàng, thờ bằng ngai và bài vị tại đình làng. Trước năm 1938 xã Nam Tạ còn giữ được hai sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 3 (1909) và Khải Định 9 (1924)

A-  Các nhà khoa bảng chính thức:

1-    Đỗ Lương Tướng (? - ?), người quê Phúc Lâm, lộ Hồng, nay là thôn Nam Tạ, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, đỗ khoa thi Thái học sinh (Tiến sỹ) thời nhà Trần.

2-    Đỗ Thân Không (? - ?), người em ruột Đỗ Lương Tướng, người quê Phúc Lâm, lộ Hồng, nay là thôn Nam Tạ, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, đỗ khoa thi Thái học sinh (Tiến sỹ) thời nhà Trần.

3-    Phạm Đức Khản (? - ?), người xã Hội Am (tên Nôm là Cõi), huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ nhị  giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Thìn, niên hiệu Đại Hòa 6 (1448) đời Lê Nhân Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang (Thứ trưởng thứ nhất)

4-    Đào Văn Hiển (? - ?), người xã An Bồ, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn An Bồ, xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Thượng thư Bộ hình (Bộ trưởng bộ Tư pháp). Phần mộ của ông mang tên Mả Nghè ngay sát UBND xã Dũng Tiến.

5-    Dương Đức Nhan (? - ?), người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang (Trật Tòng tam phẩm, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Tư pháp), tước Dương Xuyên hầu.

      Tác phẩm có bộ Tinh tuyển thi tập (tức Tinh tuyển cổ kim chư gia thi tập) là một hợp tuyển thơ chữ Hán rất nổi tiếng.

6-    Nguyễn Duy Tiếu (? - ?), người xã Đông Lại, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Đông Lại xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Tự Khanh (Trật Tòng tam phẩm)

7-    Nguyễn Cối (? - ?), người xã Hội Am (tên Nôm là Cõi), huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam  giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Đại Hồng Đức 9 (1478) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tự khanh (Trật Tòng tam phẩm).

8-    Nguyễn Sâm (? - ?), người làng Đông Tạ, huyện Tứ Kỳ. Nay thuộc thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông.

9-    Nguyễn Bá Tùng (? - ?), người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương (cùng quê với Nguyễn Duy Tinh). Nay là thôn Tạ Ngoại và thôn Nội Tạ, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông.

10-                        Nguyễn Đình Tộ (1482 - ?), người xã Đông Quất, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Tràng, xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa thi năm Mậu Thìn (1508) niên hiệu Đoan Khánh thứ 4, làm quan đến chức Tham Chính xứ Hưng Hóa (ngang với Giám đốc sở). Có tài liệu ghi nay là thôn Phương Quất, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương.

11-                        Nguyễn Duy Tinh (? - ?), người xã Tạ Xá, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (cùng quê với Nguyễn Bá Tùng), nay là thôn Tạ Ngoại và thôn Nội Tạ, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh, cùng khoa thi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Làm quan tới chức Thừa Chính sứ (Tỉnh trưởng), về trí sỹ.

12-                        Phạm Tri Chỉ (? - ?) người xã Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ. Nay là xóm Tường Vân, thôn Phương Tường, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thuần Phúc 4 (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Trước làm quan nhà Mạc, sau làm quan nhà Lê đến chức Hữu Thị lang (Thứ trưởng thứ 2).

13-                        Nguyễn Sư Khanh (1566 - ?), người xã Đông Quất, tổng Hu Trì, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Tràng, xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo. 27 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Quy thuận nhà Lê làm quan đến chức Đô cấp sự trung Hình khoa (trật Chánh thất phẩm). Mất trên đường đi sứ nhà Minh. Theo tư liệu dân gian, Nguyễn Sư Khanh chết vì đắm thuyền trên đường đi sứ tại cửa Thần Phù (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay). Ông là cháu của khoa bảng Nguyễn Đình Tộ.

14-                        Đặng Duy Minh (1551 - ?), người xã Tranh Khê, tổng An Bồ, huyện Tứ Kỳ. Nay là thôn Tranh Nguyên, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo.  50 tuổi đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Hoằng Định 6 (1604) đời Lê Kính Tông. Làm quan đến chức Đô cấp sự trung (trật Chánh thất phẩm).

15-                        Trần Lương Bật (1642 - ?), người xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Cổ Am, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. 34 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị 2 (1664) đời Lê Huyền Tông. Làm quan đến chức Binh bộ hữu thị lang, tước Nam. Sau khi mất được truy tặng chức Tả thị lang (Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng).

16-                        Đào Công Chính (1639 – 1709), người xã Hội Am (tên Nôm là Cõi), huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. 23 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ Đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Tân Sửu niên hiệu Vĩnh Thọ 4 (1661) đời Lê Thần Tông. Ông giữ chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên, được cử đi sứ nhà Thanh (1673). Khi trở về xét công đi sứ, được thăng hữu thị lang bộ Hình, Nhập thị kinh diên, tước nam. Sau khi mất được truy tặng Lại bộ Hữu thị lang (Thứ trưởng thứ 2 Bộ Nội vụ), tước tử.

          Tác phẩm: Bắc sứ thi tập 53 bài; Bảo sinh diên thọ toát yếu; Nam Sơn thực lục; Đồng biên tập: Đại Việt sử ký toàn thư (khảo đính).

17-                        Trần Công Hân (1702 - ?), người xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại. Nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Thi hương đỗ giải nguyên. 32 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời Lê Huy Phường. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Đãi chế (trật Chánh tứ phẩm trở xuống). Tử trận được truy tặng chức Đông các đại học sỹ.

18-                        Lê Duy Thái (1702 - ?), người xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại. Nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh năm Quý Dậu. Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846). 36 tuổi đỗ Phó bảng Ân khoa Mậu Thân niên hiệu Tự Đức 1 (1848). Làm quan Tri phủ (Chủ tịch huyện).

B-   Các nhà khoa bảng cần xác minh thêm:

1-    Nguyễn Mỹ (? - ?), người huyện Vĩnh Lại (không ghi xã, tổng). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông. Làm quan đến chức Lễ bộ Tả thị lang (Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao).

2-    Nguyễn Nhân Sĩ (? - ?), người huyện Vĩnh Lại (không ghi xã, tổng). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Sửu, niên hiệu Đoan Khánh 1 (1505) đời Lê Uy Mục. Các tài liệu Đăng khoa lục chỉ ghi tên huyện Vĩnh Lại.

3-    Nguyễn Minh Đạt (? - ?), người huyện Tứ Kỳ (không ghi xã, tổng). Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức (1493) đời Lê Thánh Tông. Làm quan tới chức Thừa Chính sứ (Tỉnh trưởng).

4-    Nguyễn Duy Minh (1462 - ?), người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ Đệ tam đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang (Thứ trưởng thứ nhất). (theo nguồn của Hải Phòng).

       Nguồn Tiến sỹ Nho học Hải Dương xuất bản năm 1999 (chủ biên Tăng Bá Hoành) và Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 (chủ biên PGS. TS. Ngô Đức Thọ, xuất bản năm 2006) đều ghi Nguyễn Duy Minh sinh năm 1468, người xã Hà Trường, huyện Giáp Sơn. Nay là thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

C-  Các nhà khoa bảng ít có khả năng là người quê Vĩnh Bảo:

“Trầm luân dâu bể đời người

Quê xưa nay đã luân hồi về đâu

Bùi ngùi phiêu dạt bờ đau

Hồn thương có biết xa sau gọi tìm?

       Còn riêng hai trường hợp sau có thể là do sự nhầm lẫn ở các sách ghi từ trước, nên hai nhà khoa bảng dưới đây ít có khả năng là người quê Vĩnh Bảo vì các làng ở xã Hùng Tiến, Vĩnh Bảo từ lúc thành lập đến năm 1838 đều thuộc huyện Tứ Kỳ, chưa một ngày thuộc huyện Vĩnh Lại:

a-     Lê Tử Khanh (? - ?), người xã Xuân Trì, huyện Vĩnh Lại. Nay là xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ (Hoàng giáp) khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng. Làm quan đến chức Đoán sự (một chức quan trong cơ quan xét kiện thời Lê).

 b-    Phí Vạn Toàn (? - ?), người xã Xuân Trì, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Phương Trì, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Tham chính (Giám đốc sở).
        Qua danh sách của các nhà khoa bảng quê Vĩnh Bảo, tất cả đều xứng đáng được đặt tên cho các đường phố, trường học hay các công trình văn hóa khác, nhưng những người xứng đáng hơn cả thuộc về các Tiến sỹ Nho học có nhiều công lao đóng góp cho xã hội hơn là: Đào Văn Hiển (hàm Bộ trưởng), Dương Đức Nhan (hàm Thứ trưởng), Đào Công Chính (hàm Thứ trưởng), Phạm Đức Khản (hàm Thứ trưởng), Trần Lương Bật (hàm Thứ trưởng), Phạm Tri Chỉ (hàm Thứ trưởng), Nguyễn Cối (trật Tòng Tam phẩm), Nguyễn Duy Tiếu (trật Tòng Tam phẩm),…

          Danh sách các vị đỗ đại khoa của Vĩnh Bảo không chỉ có vẻn vẹn gần hai chục Tiến sỹ, Trạng nguyên. Vì thời gian trải dài 844 năm (1075 – 1919), nhiều tư liệu chưa được cập nhật, bị mất mát, thất lạc hay bị ghi nhầm sang các địa phương khác... Mong rằng những nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử khác sẽ tìm kiếm bổ sung thêm vào danh sách các nhà khoa bảng của mảnh đất “Bảo vệ vĩnh viễn”.

 NGỌC TÔ