/Lẽ đời thấu hết nông sâu. Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy./ Thơ Võ Văn Trực

VIDEO

HỖ TRỢ

LỊCH

LIÊN KẾT

TÔ NGỌC THẠCH

BẾN QUÊ NỘI TẠ

Nhân sự kiện Nội Tạ xây miếu thờ hai vị Thành Hoàng là Thiện Thông Hưng Sỹ và Huyền Trân công chúa...

BẾN QUÊ NỘI TẠ

(Bút ký của Ngọc Tô)

.

       Sau những năm tháng dài đằng đẵng xa xứ, rồi lại mải miết lang bang trên các vùng đất lạ, tôi ít có thời gian về thăm nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đặc biệt, từ khi bố mẹ tôi chuyển ra thành phố và mấy năm nay các cụ đã về với tổ tiên, nên nay nhân giỗ Tổ ngày 12 tháng giêng âm lịch, tôi cùng một số anh chị em từ mấy tỉnh phía bắc về quê theo lời hẹn hàng năm. Con đường dẫn chúng tôi về Nội Tạ cũng gian nan vất vả như chính cuộc đời tần tảo của dân quê tôi thuộc các lớp người thế hệ trước. Gần tới nơi, cháu Duy Cường nhanh nhảu hỏi: “Làm thế nào mà nhớ đường về quê hả bác?”. Tôi có nói lại với các cháu chưa một lần về quê, cứ dọc quốc lộ 10 qua thị trấn Vĩnh Bảo đến gần địa phận giáp danh với Thái Bình thì rẽ phải, rồi qua cầu Cây Sơn là vào An Hòa quê ta”.

     Lúc này đất trời bảng lảng, muôn hạt mưa li ti còn mơn man trên muôn cành lá, vấn vít từng mái ngói thôn xóm nơi đây. Vừa đắm chìm trong cảm xúc yên bình của làng quê và qua hai lần rẽ, Nội Tạ đã hiện ra trước mặt. Đây là một làng quê nằm ở vị trí tương đối trũng so với các vùng xung quanh, nên đất đai chỉ phù hợp với nghề trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản. Nội Tạ được trải dài theo bờ bắc “Dòng Hóa Giang chở nặng phù sa” từ cống Gạo xã Hiệp Hòa đến cống Tè làng bên. Cứ mỗi lần làng mở cống lấy nước thì dòng “Phù sa nồng thơm tuổi học trò” lại cuồn cuộn đổ về khắp chiều dưới đồng trên. Rồi “Những buổi đong đêm bằng gầu tát nước” để cho “Đồng biếc xanh thì con gái” thì muôn ký ức xưa lại lần lượt ùa về. Những giọt phù sa ấy đã nuôi dưỡng mảnh đất, con người nơi đây qua nhiều thế hệ, vì vậy có thể khảng định rằng Nội Tạ được hình thành bởi dòng Hóa Giang hiền hòa và thơ mộng.

        Thời tiền cổ Nội Tạ thuộc huyện Vĩnh Lại (gồm một số xã của Phụ Dực, Vĩnh Bảo và Ninh Giang ngày nay), phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Đến năm 1838 thời nhà Nguyễn thuộc xã Lý Nhân, tổng Bắc Tạ, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Ngày 21 tháng 08 năm 1947, xã Lý Nhân (gồm Nội Tạ, Tạ Ngoại, Thượng Đồng) hợp nhất với xã Liên Giang (gồm An Lãng, Kênh Hữu, Xuân Cốc) thành xã An Hòa, thuộc huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Đến cuối năm 1952 huyện Vĩnh Bảo được cắt về tỉnh Kiến An và từ ngày 27 tháng 10 năm 1962 Kiến An sát nhập vào thành phố Hải Phòng. Nếu lấy Nội Tạ làm tâm quay một vòng tròn lớn với bán kính khoảng gần 40 ki-lô-mét, thì trên chu vi hình tròn đó có ba thành phố là Thái Bình, Hải Dương và Hải Phòng. Chính vì vậy mà Nội Tạ mang bản sắc văn hóa của vùng quê lúa Thái Bình, đất “Địa linh nhân kiệt” xứ Đông và đất Cảng Hải Phòng.

Tuổi thơ tôi gắn liền với mảnh đất ven bờ bắc sông Hóa này. Những cái tên của chiều dưới, đồng trên như: Đầm Bến, Ao Sa, Chái Cửa, Chái Quan, Chái Bầu, Chân Chùa, Đống Nàn, Đống Trắng, Tám Mẫu, Gốc Sộp, Cao Thiên, Sào Đâu, Thùng Sen, Thùng Ông Kênh, Cống Gạo, Cống Tè, Mả Vua, Mả Kễu, Đống Đồng Quân, Đống Cầu, Đống Miễu, Đống Sừng, Đống Đồng Dung, Đống Củ, Đống Trúc,... đã găm vào ký ức tôi chẳng bao giờ phai. Nhiều công trình kiến trúc cổ bằng gỗ lim khá hoành tráng trong đó có đình Nội Tạ, nơi chúng tôi bắt đầu làm quen với con chữ, đã bị dỡ bỏ từ lâu bởi một số cựu đảng viên theo chủ nghĩa vô thần. Mọi thứ bây giờ đã khác xưa, nhưng mỗi khi về quê là lại cảm thấy như mình được sưởi ấm tâm hồn mà bao năm bị “Buốt giá khâu vào thịt da thấm vào tâm thức” ở Xibia, Liên bang Nga. Đứng trước cổng làng tôi bồi hồi nhớ lại: Con đường đất liên xóm ngày xưa cũng như bao con đường ở làng quê khác. Tuy bề ngang chỉ đủ hai chiếc xe thồ tránh nhau thôi, lại gập ghềnh quanh co, mùa giêng hai trơn trượt, còn các mùa khác là cát bụi, nhưng nó là những ký ức đẹp với tuổi thơ tôi. Cũng từ con đường nhỏ này, nó dẫn vào các ngõ của khuôn viên từng gia đình. Cứ mỗi một hộ, ngoài vườn cây ăn quả hay vườn chè ra, thì nhà nào cũng có chiếc ao lớn để rửa ráy, giặt giũ, thả bèo và nuôi cá. Từng cái ao san sát nối nhau này ví như mảnh hồn làng được bao bọc bởi muôn rặng tre hay những hàng dừa xanh biếc, tạo nên một phong cảnh hữu tình. Vào những trưa hè, bọn trẻ chúng tôi thường nhảy ùm xuống ao tắm, hoặc vớ được đoạn thân chuối bì bõm tập bơi. Cũng từ những bài tập chập chững đầu đời đó, chúng tôi lớn lên trong tình yêu thương đùm bọc của gia đình, làng xóm, rồi ra sông Hóa bơi với bao sóng gió mạnh tợn hơn, để khi trưởng thành ra biển lớn thì mình có thể vượt qua muôn thử thách chông gai. Còn nếu vào những hôm nóng nực, ngồi dưới tán cổ thụ bìa làng thẩn thơ hóng gió thì còn gì sướng hơn, hay mở tầm mắt nhìn ra xa từ đông sang tây ta thấy toàn bộ cánh đồng thẳng cánh cò bay được bao phủ một màu vàng xuộm của mùa lúa chín. Những bông lúa trĩu hạt, mẩy đều, ngả vào nhau thầm thào trò chuyện. Mỗi khi có làn gió qua, cả biển lúa xao động tạo thành từng đợt sóng, lại nhấp nhô xô đuổi nhau chạy mãi tít xa. Trên triền đê từng đàn trâu mải mê gặm những mảng cỏ xanh rờn, mấy chú mục đồng túm tụm dưới tán cổ thụ rợp mát, lúc nào trên tay cũng với cuốn sách cũ mê say...

       Còn hôm nay khi trở về quê, vẫn bao điều giản đơn bình dị đó, mà tôi lang thang khắp năm châu bốn biển kiếm tìm cũng không nơi nào có được: “Tre cong vít ngọn ngang đầu. Mảnh ao lõm nắng cũng ngầu cuộn lên. Kìa ai đan rổ bên hiên. Thả bao mơ mộng vào miền nan thưa. Đồng làng cưới một cơn mưa. Lúa thì con gái chuyển trưa sang chiều. Bến quê thân thiết bao điều...”. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Nội Tạ có lúc thịnh lúc suy, đến nay dân cư đông đúc gồm gần 400 hộ với gần 1400 nhân khẩu. Trong lũy tre làng là “Lá lành đùm lá rách” của bao dòng họ như Tô, Nguyễn, Trần… nhưng Tô tộc chiếm già một nửa.

Năm trước khi viết lại gia phả cho dòng tộc, tôi phải nghiên cứu khá nhiều tài liệu, rồi nhờ tư vấn của mấy giáo sư sử học, cũng như về tận Đồng Xâm, nơi sinh ra cụ Tổ... để tìm hiểu cặn kẽ về quá trình hình thành mảnh đất và con người quê tôi. Theo Đại Nam Nhất thống chí, những người biên soạn viết về miền đất trấn Sơn Nam một Tạ và việc di dân lập ấp của cụ Tô Hiến Thành. Nhiều người đã di cư về vùng đất đồng bằng châu thổ này. Nếu quay ngược đồng hồ thời gian thì Nội Tạ từ rất xa xưa đã có người tới lập nghiệp, sinh sống. Nối tiếp các triều đại về sau dân cư đến khai hoang lập ấp ngày càng đông đúc. Có thể minh chứng bằng các di tích lịch sử như: Đền thờ các vị Thành Hoàng là Thiện Thông Hưng Sĩ, Công chúa Huyền Trân… Rồi đống Trúc, đống Đồng Quân là nơi luyện tập của nghĩa quân nhà Trần hồi thế kỷ XIII. Miếu Tạ Ngoại thờ Thành Hoàng Tuấn Lương Thiên Thông Đại Vương và Tuấn Lương Vĩnh Phúc Đại Vương thuộc dòng dõi Vua Hùng có công đánh giặc. Đền Đức Thánh Cả tại Hạ Đồng có câu đối ghi “Hùng triều lưu hiển tích, Tây Tạ ngật sùng cừ”… hay Mả Vua, nơi chôn cất thi hài của Vua Trần.

        Theo các sử gia, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh ra ở thái ấp của bố là An Sinh Vương Trần Liễu tại A Sào (tên cũ là A Cảo, tên Nôm là làng Gạo) ở bên bờ nam sông Hóa, nay là xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình cách quê tôi một đoạn không xa. Khi ông được dăm tuổi thì theo cha về kinh thành. Biết vùng đất ven sông này là nơi hội tụ khí thiêng, lại có địa thế hiểm yếu về quân sự nên nhà Trần đã chọn A Sào làm nơi xây dựng căn cứ địa chuẩn bị quân lương đánh giặc giữ nước. Nơi đây là công phủ khi Trần Hưng Đạo mới 18 tuổi được phong tước Thượng Vị Hầu, vâng mệnh triều đình đến trông coi kho gạo trong hơn ba năm. Mảnh đất A Sào là hậu phương vững chắc của Vương triều nhà Trần góp phần vào chiến tích lẫy lừng trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông (Năm 1258, 1285 và 1288).

       Cuối mùa xuân năm 1288, Trần Hưng Đạo đem quân từ A Sào vượt qua sông Hóa đi đánh Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba. Thời ấy Hóa Giang chỉ là một con sông nhỏ, hai bên ngợp sình lầy. Không may voi của tướng quân bị sa xuống đó không lên được. Nhân dân địa phương đã mang gỗ, tre, rơm rạ cùng bè mảng tìm cách cứu voi chiến, nhưng voi càng quẫy đạp thì càng bị lún sâu vào bùn đất. Trong khi thế trận quá khẩn trương, nên chủ tướng Trần Quốc Tuấn đành bỏ voi lại, tiếp tục lên đường đánh giặc. Nhìn con voi trung thành với mình đang ứa nước mắt, Ngài rút gươm chỉ xuống Hóa Giang thề rằng: “Trận này không thắng giặc Thát ta quyết không trở lại bến sông này”. Sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, để tỏ lòng biết ơn “người bạn trung thành” với mình, Trần Hưng Đạo đã cho xây dựng tại địa điểm này đền Voi Phục, rồi cho đắp voi đất đúng bằng kích thước voi thật. Sau đó nhân dân địa phương nhiều lần trùng tu thay voi đất bằng voi gạch, đến năm 1936 voi gạch được thay bằng voi đá nhỏ hơn.

Đến nay đền Voi Phục được phục dựng lại khá khang trang tại khu vực Bến Tượng ven bờ nam sông Hóa với chất liệu bằng đá hoàn toàn mới. Còn voi đá cũ được đưa về khu di tích cách đó một đoạn khoảng 300 mét. Cũng chính mảnh đất nơi đây đã gắn bó với Trần Quốc Tuấn từ lúc ấu thơ đến khi trưởng thành, góp phần hun đúc lên tài năng, phẩm hạnh của vị danh tướng tài năng, lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, được nhân dân tôn kính gọi là Ðức Thánh Trần. Hàng năm, cứ vào ngày 10 tháng 2 âm lịch, tương truyền là ngày sinh của Ngài, chính quyền và nhân dân địa phương mở hội tế lễ Đức Thánh Trần và lễ hội đền A Sào với nhiều hoạt động văn hóa dân gian phong phú như: Biểu diễn màn sử thi “A Sào hiển thánh”, thi bơi trải, đấu pháo đất, giã bánh dày, cờ tướng, bóng chuyền, múa kéo chữ... Còn ngay bên phía bờ bắc sông Hóa cũng có làng Gạo thuộc xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng tiếp giáp với mảnh đất Nội Tạ quê tôi. Lúc đầu hai làng Gạo đó có cùng một nguồn cội, đến khi con sông lớn dần theo năm tháng, rồi phân chia hành chính hai bên tả hữu thành hai địa phương khác nhau và từ đó làng Gạo bên bờ bắc không còn liên lạc với làng Gạo bên bờ nam sông Hóa nữa...

Vào năm 1481, theo đề nghị của các quan lại, Vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) lập 43 sở đồn điền với mục đích “Khai thác hết sức nông nghiệp, mở rộng nguồn súc tích cho nước” trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có sở Tây Tạ. Cái tên Nội Tạ có nghĩa là làng phía trong Tây Tạ. Có giả thuyết nữa nói Nội Tạ là trung tâm của Tây Tạ. Mảnh đất Nội Tạ còn nổi tiếng bởi các lễ hội “Tiếng pháo đất còn loang trong gió” hay “Người đang nhún đu bằng sợi nắng trung trinh trong chiều say chầm chậm. Người si mê trong điệu múa tứ linh, hát đúm, cờ người...”. Những trò chơi dân gian truyền thống ấy lại càng khảng định Nội Tạ là một trong những nơi có người đến lập nghiệp sớm tại miền Duyên Hải Bắc bộ.

        Theo gia phả và các cụ truyền lại thì ông Tổ họ Tô Nội Tạ có tên Tô Quý Công Phúc Trực thường gọi là Tô Công Tự Phúc Hiền, là người thông minh,  cần mẫn trong lao động, có đức tính tốt, tư duy về kinh tế, quê ở tổng Đồng Xâm*, phủ Kiến Xương, Thái Bình. Nơi ấy có nghề chạm bạc nổi tiếng. Đây còn là miền đất đã sinh ra Hoàng hậu Triệu Vũ Đế (Vua nước Nam Việt cổ). Hiện nay vẫn còn đền thờ Triệu Đà và đền thờ Hoàng hậu Trình Thị, được xây dựng từ xa xưa, rất bề thế tại xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Hàng năm cứ đến ngày mồng 1 tháng 4 là hội làng Đồng Xâm lại mở. Nhân dân trong vùng cũng như du khách thập phương nô nức về đây tham gia nhiều trò chơi dân gian, những hoạt động văn hóa đặc sắc cho đến hết ngày mồng 3 tháng 4 như hát ca trù, hát chèo, rước thánh sư, tế lễ, đua thuyền trên sông Vông…

        Ông Tổ họ Tô Nội Tạ thuở thiếu thời vất vả như bao mảnh đời khác, cụ rất thông minh, chịu khó, có chí tiến thủ, dám nghĩ dám làm, đến vùng đất Nội Tạ lập nghiệp. Lúc đầu cụ làm gia sư cho một gia đình họ Nguyễn và sau đó kết hôn với cụ bà Nguyễn Thị Đại (Chi phái nhà cụ Tiên Đội) vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Khi đất nước có chiến tranh, triều đình phong kiến nhà Trịnh tuyển mộ thanh niên trai tráng tại các địa phương, những người tài giỏi lên đường đánh giặc, cụ được chọn vào lực lượng quân đội chiến đấu bảo vệ ở biên giới phía bắc.

Do có nhiều thành tích trong thời gian phục vụ quân ngũ, nên khi kết thúc chiến tranh được chúa Trịnh phong sắc là Diệu Ứng Mỹ Âm Tô Thần và cấp đất làm điền trang. Cụ còn được quan úy phẩm gả con gái rượu cho, tên là Anh Ninh Thổ Kỳ Tôn Thần. Khi trở về quê, cụ có mang theo người thiếu nữ xinh đẹp đó để ra mắt dân làng. Lúc đến quán gần vào làng Nghĩa Lý xã Hiệp Hòa thì trời đã muộn, cụ để cụ bà tạm nghỉ ở đây, còn cụ về quê bàn bạc với họ hàng để hôm sau lên đón dâu. Nhưng đêm hôm ấy “Gió gào thét, trời mịt mùng dông tố. Chớp loằng nhoằng tiếng sét nổ inh tai. Cành sộp xanh nằm bên đường đau đớn. Mưa rơi hoài nặng trĩu xé lòng ai”, cụ bà bị cảm đột ngột và qua đời. Sáng hôm sau trời quang mây tạnh, mọi chuyển động hình như chầm chậm trôi, dấu vết của trận cuồng phong đêm qua đã để lại nỗi buồn vô hạn lên từng khuôn mặt các thành viên họ nhà trai. Khi tới nơi thì điều bất ngờ xảy ra: Mối đã đùn lên một đống lớn lấp kín cả thi thể cụ bà… Rất ngạc nhiên về hiện tượng trên, mọi người cho rằng đó là số mệnh và trời đã chôn cụ giùm ở chỗ đất thiêng, dân gian gọi là “Thiên táng”. Theo tương truyền những gia đình có “Thiên táng”, tương lai dòng tộc đó sẽ thịnh vượng, phát đạt đặc biệt là đường khoa cử. Vì vậy mộ cụ bà cứ để nguyên mà bồi đất cao lên thôi. Sau đó cụ Tổ họ Tô lập tại đây đền thờ cụ bà, chỗ có cây sộp sum suê và cây cọ cao.

        Tô Tộc Nội Tạ phát triển nhanh chóng, làm ăn phát đạt, có chí học hành và thành danh ở nhiều đời kế tiếp nhau. Các đời trước nữa tôi chưa có tư liệu, nhưng từ hậu duệ đời thứ ba, cụ Hậu già là người hay chữ, biết làm ăn và giữ chức sắc trong làng tổng. Sang hậu duệ đời thứ tư của ngành trưởng là cụ Tô Văn Tuệ (thường gọi là cụ Hậu trẻ) có tư duy kinh tế, vừa dạy chữ nho vừa bốc thuốc chữa bệnh. Ruộng có trên ba trăm mẫu, đi từ cống Gạo đến chợ Gừng không phải nhờ đất của người khác. Khi cụ mất còn quàn xác một trăm ngày trong quan tài gỗ vàng tâm ba lớp tại lăng, nay là chỗ đất góc sau nhà ông Phiếu và vườn ngoài nhà tôi. Tuần nào cũng mổ trâu hay giết bò khao và câu nói “Cả làng hôm ấy không khói” còn đọng mãi đến bây giờ. Rồi sang hậu duệ đời thứ năm có cụ Tô Văn Hoàn thường gọi là cụ Điển Hoàn làm quan quân sự huyện Phụ Dực vào thế kỷ XIX (Tương đương với chức Huyện Đội trưởng bây giờ). Cụ Tô Văn Tợi làm Chánh tổng, nhiều cụ khác giữ chức sắc trong làng tổng suốt từ đó đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Qua nhiều thế hệ tới nay, họ Tô Nội Tạ vẫn phát huy được truyền thống hiếu học, bảo vệ đất nước và giữ nhiều trọng trách cao trong chính quyền cũng như trong các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp...

        Trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn ác liệt nhất, Huyện ủy, UBND huyện Vĩnh Bảo rút vào hoạt động bí mật đã được đặt tại khuôn viên nhà ông Tô Bá Thứ (Chỗ nhà ông Phung ngày nay) để lãnh đạo phong trào kháng chiến cho cả vùng. Như vậy Nội Tạ còn là một căn cứ địa cách mạng cho huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng mà lâu nay nhiều người chưa biết đến, lịch sử Đảng bộ huyện chưa nhắc tới...

       Hằng năm mỗi khi tết đến, xuân về cây cối bắt đầu đâm chồi nảy lộc, muôn cành đào đang rộ sắc và trong tôi dòng cảm xúc trào tuôn: “Tôi trở về sông Hóa. Bao kỷ niệm đong đầy. Phiêu bồng cùng ngọn gió. Giữa dòng xuân thơm ngây”. Vào những ngày này cũng chính là thời gian cho các thành viên từng gia đình ở xa hay gần trở về quây quần bên nhau tại quê. Đứng giữa nơi chôn nhau cắt rốn thiêng liêng này, tôi cảm thấy đây thực sự là một BẾN QUÊ, một điểm tựa tinh thần cho tôi và mọi thành viên trong làng dù phiêu bạt ở góc biển chân trời nào cũng “Tìm về nguồn cội”. Ngoài ra nó còn là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn cho các thành viên trong từng dòng tộc, góp phần hun đúc nên bản sắc văn hóa làng quê Nội Tạ, được bảo tồn và phát triển qua từng thế hệ.

__________ 

*Tổng Đồng Xâm cổ gồm các xã sau: Dục Dương (Xuân Dục, Dục Dương)), Dương Cước, Đắc Chúng, Diệm Dương; Hữu Bộc, Lãng Đông, Năng Nhượng, Tả Phụ, Thuyền Đinh, Thượng Gia, Thượng Hòa, Trực Tầm, Xuân Cước. 

 

** Những người giữ chức trưởng Tô Tộc Nội Tạ:

1- Cụ Tô Văn Chính, hậu duệ đời thứ hai (thế kỷ 18). 2- Cụ Tô Văn Lộc, hậu duệ đời thứ ba (thế kỷ 18). 3- Cụ Tô Văn Mùi, hậu duệ đời thứ tư (thế kỷ 19). 4- Cụ Tô Văn Tợi, hậu duệ đời thứ năm (thế kỷ 19). 5- Cụ Tô Văn Tiệp, hậu duệ đời thứ sáu (thế kỷ 20). 6- Ông Tô Văn Mai, hậu duệ đời thứ bảy (1944 – 1979). 7- Ông Tô Văn Minh, hậu duệ đời thứ bảy (1980 – 1999). 8- Bác Tô Văn Mạnh, hậu duệ đời thứ 8 (2000 – nay).

 

Hải Phòng xuân Tân Mão

 

@@@