/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

TIN TỨC

MẢNH ĐẤT (永保) “BẢO VỆ VĨNH VIỄN”

Một ở bên tả quốc lộ 10 gần sông Hóa thuộc xã Hưng Nhân – Vĩnh Bảo do nhóm cư dân từ làng Vẻn nội thành Hải Phòng về khai hoang lập ấp... vào thế kỷ thứ XV.

 MẢNH ĐẤT (永保) “BẢO VỆ VĨNH VIỄN”

 .

       Có một số sách xuất bản sau năm 1945 ghi huyện Vĩnh Bảo bằng chữ Nho (永宝)có nghĩa là “báu vật trường tồn”, nhưng khi nhìn vào các sắc phong của các nhà vua ban từ triều Trần, Lê, Nguyễn... hay bản đồ cổ từ đầu triều Nguyễn tôi thấy hai từ Vĩnh Bảo (永保) có nghĩa là “bảo vệ vĩnh viễn” và huyện Vĩnh Bảo từ khi ra đời tới nay (1838 - 2020) đã tròn 182 năm. Trước kia Vĩnh Bảo thuộc tỉnh Hải Dương, từ cuối năm 1952 thuộc tỉnh Kiến An và từ 1962 thuộc thành phố Hải Phòng. Vĩnh Bảo là một huyện muộn nhất nằm ở phía Nam của thành phố Hải Phòng, tiếp giáp với tỉnh tỉnh Hải Dương, huyện Tiên Lãng và tỉnh Thái Bình qua 3 dòng: “Sông Luộc, sông Thái Bình chảy cùng sông Hóa. Bồi đắp quê ta thành xóm thành làng”.

        Vùng đất Vĩnh Bảo được hình thành cách đây vào khoảng 4500 năm gắn liền với các giai đoạn phát triển của đồng bằng Bắc Bộ và chịu ảnh hưởng những tác động của biển Đông. Nó được tích tụ phù sa bởi hệ thống sông ngòi dày đặc từ miền ngược đổ ra biển Đông, nên địa hình huyện Vĩnh Bảo xuôi thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam. Đất đai hình thành đến đâu thì con người tiến dần tới đó khai phá, sinh cơ lập nghiệp, mở mang làng xã ra đến đó...

        Theo những tài liệu lịch sử và tương truyền dân gian thì vào thời kỳ Hùng Vương đã có người đến sinh cơ lập nghiệp. Ta có thể dựa vào các thần phả đình làng Tranh Chử (Chanh Chử) có ghi: Trong nước có giặc, tướng Cao Sơn được vua Hùng thứ 18 cử về vùng Tranh Chử, lập hành dinh, chiêu mộ quân sỹ chống Thục Phán. 18 trai làng đã theo tướng Cao Sơn làm gia hạ. Ngoài ra tại đình Quỳnh Côi và đình Ngọc Lâm xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ cũng thờ vị tướng này.

       Hay miếu làng Tạ Ngoại (xã An Hòa) thờ 4 vị thành hoàng: Tuấn Lương Thiên Thông đại vương; Tuấn Lương Vĩnh Phúc đại vương. Theo thần tích là 2 vị dương thần, dòng dõi vua Hùng. Một vị sinh ngày 15/02, vị còn lại sinh 18/08, có công giúp vua Hùng đánh giặc, sau đi ngao du đến địa phận làng Tạ Ngoại thấy sơn thủy hữu tình liền biến hóa ngày 08/05... Sau đó vua sai quan quốc sư về hỏi sự thể rồi cấp tiền cho dân lập miếu thờ.

       Hay thời kỳ đầu trước công nguyên, nhiều người dân đã tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 44) hiện còn đền thờ và truyền thuyết dân gian ở vùng Tam Đa, Lý Học,... Sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chính quyền đô hộ đã bắt cóc các nghĩa sỹ làm tù binh, đưa về vùng ven biển Vĩnh Bảo, Tiên Lãng để khai khẩn đất đai, lập trang trại. Hay theo thần phả chùa và miếu Nhân Mục (Nhân Hòa) thờ thành hoáng Quý Minh đại vương, tên hiệu là Hiển, sinh ngày 07/01 hóa ngày 12/11. Theo thần tích, đời Hùng Vương thứ 18 cùng với hai anh là Tản Viên và Cao Sơn Phù Ủng có công đánh giặc Thục, dduwwocj phong Hiển Công Vi Quý Minh đại vương. Sau đó cùng 2 anh đi du ngoạn tới làng Nhân Mục “cắm“ một ngôi đền, rồi cả 3 anh em lên núi hóa đá... Những dẫn chứng trên chưa có độ tin cậy cao, nhưng nó cũng thể hiện mảnh đất “Bảo vệ vĩnh viễn“ đã có người đến sinh sống và lập nghiệp từ rất xa xưa.

 

      Đây là sắc phong của triều Nguyễn

       Từ thời Hùng Vương Vĩnh Bảo thuộc bộ Dương Tuyền (Thang Tuyền), một trong 15 bộ của đất Văn Lang xưa. Thời Tần (221 – 207 TCN) thuộc Tượng Quận, thời Hán (206TCN – 220) thuộc quận Giao Chỉ, một phần thuộc huyện Câu Lậu trong quận này. Thời Trần (bắt đầu từ 1225) thuộc phủ lộ Nam Sách, lộ Hải Đông (lúc đầu gọi là Hồng Lộ). Thời Minh (bắt đầu 1368) thuộc địa bàn phủ Tân An (Tân Yên), trong thời kỳ này xuất hiện đơn vị hành chính huyện Đồng Lợi. Vào năm Vĩnh Lạc 5 (năm 1407), phủ Tân An có 5 huyện, còn châu Hạ Hồng trong phủ này có 4 huyện gồm cả huyện Đồng Lợi (địa bàn chủ yếu của huyện Vĩnh Lại – Vĩnh Bảo về sau). Đời Thuận Thiên 10 (1469) thuộc phủ Hạ Hồng trong thừa tuyên (xứ) Hải Dương (năm 1472 đổi Hạ Hồng là Thiên Hùng, đến 1475 gọi lại là Hạ Hồng). Tên huyện Vĩnh Lại (do huyện Đồng Lợi đổi tên) có xuất hiện vào năm Cảnh Hưng 2 (1739) thuộc đạo Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Thời Tây Sơn thuộc phủ Nam Sách, trấn Hải Dương.

      Trước năm 1813, huyện Vĩnh Lại gồm 11 tổng với 107 xã, thôn, trang. Các tổng là: Văn Hội, Bồ Dương, Xuyên Hử, Bất Bế, Đông Cao (các tổng này không nằm trong địa bàn huyện Vĩnh Bảo), Kê Sơn, An Lạc, Hạ Am, Đông Am, Thượng Am, Ngãi Am. Như vậy, địa bàn huyện Vĩnh Bảo ngày nay chỉ là một nửa của huyện Vĩnh Lại xưa và một phần huyện Tứ Kỳ từ năm 1838.

      Vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) phủ Ninh Giang ra đời, lúc này Ninh Giang quản lý 4 huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại. Phủ lỵ có thành đất bao quanh, dài 171 trượng (684m), cao 6 thước 2 tấc, 4 mặt thành có hào, 3 cửa ra xã Tranh Xuyên (nay là xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, Hải Dương). Đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830) lỵ sở Ninh Giang dời về tổng Bất Bế (tức Ninh Giang ngày nay.

        Năm 1838 theo đề nghị của Tổng đốc Hải Dương Nguyễn Công Trứ (một chính trị gia, một nhà quân sự và một thi sỹ với câu thơ nổi tiếng Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”) vì địa bàn hai huyện Vĩnh Lại và Tứ Kỳ đều thuộc phủ Hạ Hồng quá rộng lại gián cách gây trở ngại. Huyện Vĩnh Bảo được thành lập trên cơ sở trích 3 tổng Đông Am, Thượng Am và Ngãi Am thuộc huyện Vĩnh Lại để sát nhập với 5 tổng  của huyện Tứ Kỳ là An Bồ, Viên Lang, Đông Tạ, Can Trì và Bắc Tạ (Trước 1838 tổng Bắc Tạ gồm 16 xã, thôn: Bắc Tạ, Trung Tạ, Lô Đông, Ích Dương, Xuân Cốc, Thượng Đồng (thuộc sở Tây Tạ), Nghĩa Lý, Phương Đường, Nội Tạ, Uy Nỗ, Hà Hương, Kinh Hữu, Nhân Lễ, Hạ Đồng (ở xã Cộng Hiền ngày nay, thuộc sở Tây Tạ), Tường Vân, Trúc Hiệp). Đến cuối đời Tự Đức (1848 – 1883), khi Pháp xâm chiếm Bắc Kỳ (1873), mới sát nhập thêm 3 tổng Kê Sơn, An Lạc và Hạ Am thuộc phần còn lại của huyện Vĩnh Lại cũ.

        Đến năm 1890 khi tỉnh Thái Bình được thành lập, phần đất từ sông Hóa đến sông Thái Bình của huyện Vĩnh Lại được giao cho huyện Vĩnh Bảo và Vĩnh Bảo được mở rộng tới 11 tổng:

1- Tổng Thượng Am gồm 6 xã: Thượng Am, Hậu Am, Liên Khê, Tiền Am, Trung Am và Lãng Am.

2- Tổng Đông Am gồm 7 xã: Đông Am, Hội Am, Tây Am, Vạn Tuyền, Đông Lại, Cổ Am và Liễu Điện.

3- Tổng Ngải Am gồm 7 xã: Ngải Am, Dương Am, Hàm Dương, Lôi Trạch, Tiên Am, Bào Am và Nam Am.

4- Tổng Kê Sơn gồm 10 thôn xã: Kê Sơn, Nhân Mục, An Biên (tên Nôm là Vẻn), Nhân Giả, Mai Sơn, Từ Đường, Cựu Điện, Tứ Duy, Hoàng Kinh và Kinh Trạch.

5- Tổng An Lạc gồm 7 xã: An Lạc, Linh Đông, Linh Động, Thâm Động, Quán Khái, Phần Thượng và Hà Cầu.

6- Tổng Hạ Am gồm 8 xã: Hạ Am, Lương Trạch, An Quý, Cúc Thủy, Hà Dương, Thanh Khê, Địch Lương, Cống Hiền

7- Tổng Yên Bồ gồm 9 xã: Yên Bồ, Cự Lai, Đan Điền, Đồng Quang, Nội Thắng, Xuân Bồ, Kim Ngân, Quý Xuân, Tranh Nguyên

8- Tổng Bắc Tạ gồm 17 thôn xã: Bắc Tạ, Ích Dương, Kinh Hữu, Nội Tạ, Trung Tạ, Tường Vân, Xuân Cốc và sở đồn điền Tây Tạ tách thành 2 thôn riêng biệt là Hạ Đồng (nay thuộc Cộng Hiền) và Thượng Đồng, Uy Nỗ, Hà Hương, Phương Đường, Lô Đông, Nhân Lễ, Nghĩa Lý, Trúc Hiệp, Tranh chử.

9- Tổng Viên Lang gồm 9 xã: Viên Lang, Cung Chúc, Đông Lôi, An Lạc, Nghiêu quan, Tầm Thượng, An Cầu, Liễu Kinh và Thiết Tranh

10- Tổng Đông Tạ gồm 6 xã: Đông Tạ, Cao Hải, Liễn Thâm, An Ngoại, Nội Đơn, Nam Tạ

11- Tổng Can Trì gồm 7 xã: Can Trì, Kinh Trì, Cúc Bồ, Ngọc Đồng, An  Trì, Đông Quất, Lễ Hiệp.

         Như vậy ta có thể thấy một số làng xã ở địa phận huyện này thì lại thuộc huyện khác quản lý như: Hạ Đồng nằm trên đất của tổng Hạ Am (huyện Vĩnh Lại cũ) thì lại do tổng Bắc Tạ quản lý (huyện Tứ Kỳ cũ) hay xã Tranh Chử lại thuộc tổng Bất Bế, huyện Ninh Giang… Rồi đến tận ngày nay (2020) thì thôn Lô Đông xã Vĩnh Long có xóm Đồng Trượng ở bên kia sông Hóa thuộc khu vực của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

        Năm 1901, theo danh sách của Nha Kinh lược Bắc Kỳ, tổng Bắc Tạ được tách thành hai tổng riêng. Tổng Uy Nỗ gồm 8 xã: Uy Nỗ, Hà Hương, Phương Trì, Lô Đông, Nhân Lễ, Nghĩa Lý, Trúc Hiệp, Chanh chử. Còn tổng Bắc tạ lúc bấy giờ gồm 7 xã: Bắc Tạ, Ích Dương, Kinh Hữu, Nội Tạ, Trung Tạ, Tường Vân, Xuân Cốc và sở đồn điền Tây Tạ (sau tách thành 2 thôn riêng biệt là Hạ Đồng - Cộng Hiền và Thượng Đồng). Đến thời điểm này huyện Vĩnh Bảo có 12 tổng (năm 1901 Can Trì đổi thành Hu Trì, tên một số xã trong tổng bị đổi vì kiêng tên húy). 12 tổng là: An Bồ (Yên Bồ), An Lạc, Bắc Tạ, Hu Trì (Can Trì cũ), Đông Am, Đông Tạ, Hạ Am, Kê Sơn, Ngãi Am, Thượng Am, Uy Nỗ (Oai Nỗ), Viên Lang.

        Danh sách 12 tổng này không thay đổi so với danh sách làng, xã năm 1927 và hồ sơ thần tích năm 1938, trừ những khác biệt về chính tả của tên gọi, kể cả xã thôn. Trừ một số rất nhỏ xã thôn mới được thành lập trong khoảng từ 1901 đến 1945 thuộc phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Vào năm 1919 thực dân Pháp bỏ cấp phủ - cấp hành chính trung gian, còn phủ chỉ là tên gọi cho những huyện lớn và quan trọng, như vậy sau năm 1919 tên gọi Ninh Giang thay cho tên Vĩnh Lại. Cũng vào thời gian này huyện Vĩnh Bảo được đổi thành phủ Vĩnh Bảo, dưới phủ là cấp tổng…

        Những năm 1950 – 1953, chính quyền Bảo Đại thành lập tỉnh Vĩnh Ninh thì quận Vĩnh Bảo, Ninh Giang, Hà An, Tiên Lãng và Phụ Dực thuộc tỉnh này, còn chính quyền cách mạng vẫn để thuộc tỉnh Hải Dương. Sau năm 1945 chính quyền cách mạng bãi bỏ đơn vị hành chính cấp phủ, tổng, sát nhập với các thôn làng, xã cũ thành lập các thôn hoặc xã mới với tên gọi cũ hoặc đặt tên mới.

        Năm 1952, do yêu cầu của tình hình kháng chiến, huyện Vĩnh Bảo được sát nhập vào tỉnh Kiến An. Từ 27/10/1962 tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng hợp nhất, Vĩnh Bảo là một huyện ngoại thành vào loại lớn và xa trung tâm thành phố nhất…

 Mười tám làng Am gồm:

1-    Lạng Am (xã Lý Học ngày nay)

2-    Tiền Am (xã Lý Học ngày nay)

3-    Trung Am (xã Lý Học ngày nay)

4-    Dương Am (xã Trấn Dương ngày nay)

5-    Ngãi Am (xã Hòa Bình ngày nay)

6-    Hạ Am (xã Cộng Hiền ngày nay)

7-    Hội Am (xã Cao Minh ngày nay)

8-    Tây Am (xã Cao Minh ngày nay)

9-    Đông Am (xã Tam Cường ngày nay)

10-            Nam Am (xã Tam Cường ngày nay)

11-            Cổ Am (xã Cổ Am ngày nay)

12-            Hậu Am (xã Liên Am ngày nay)

13-            Liên Am (xã Liên Am ngày nay - mới xuất hiện vài chục năm nay)

14-            Thượng Am (xã Liên Am ngày nay)

15-            Tiên Am (xã Vĩnh Tiến ngày nay)

16-            Bào Am (xã Vĩnh Tiến ngày nay)

17-            Vân Am (bên bờ Nam sông Hóa, đối diện với xã Tam Cường, nay thuộc xã Thụy Quỳnh, huyện Thái Thụy, Thái Bình) 

18-            Thanh Am (xã Mai Lâm - Đông Anh – Hà Nội ngày nay). 
      Có nhiều người hỏi tại sao Thanh Am mãi tận xã Mai Lâm, huyện Đông Anh,  Hà Nội mà vẫn được tính làng Am thứ 18 vì: Thanh Am là một làng cổ bên bờ Nam sông Thiên Đức (Đuống) và được hình thành gắn liền với công lao của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tục truyền, trong thời gian làm quan ở Thăng Long, ông thường đi thăm thú vùng ngoại thành ven sông Thiên Đức, thấy đất đai nơi đây nhưng màu mỡ, phong cảnh hữu tình, ông liền đưa nhiều con cháu và dân làng lên đây lập nghiệp và sau đó làng Hoa Am được lập và nghiễm nhiên trở thành làng thứ 18 trong hệ thống làng Am. Sau 8 năm làm quan ở Kinh Thành cho nhà Mạc, vì lý do tế nhị ông xin từ quan về ở ẩn tại dinh thự ở làng Hoa Am để nghỉ ngơi và sáng tác. Ông là người đã khai sinh ra làng này, sau khi ông mất được dân Hoa Am xây đền thờ và vinh danh là Thành hoàng làng. Đầu thế kỷ XIX, Hoa Am là một xã thuộc tổng thuộc tổng Đặng Xá, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (từ năm Minh Mạng thứ 12 - 1831 là tỉnh Bắc Ninh). Khi vua Thiệu Trị lên ngôi (năm Tân Sửu, 1841), vì kỵ húy bà Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị, vợ vua Minh Mạng) nên làng Hoa Am phải đổi thành Thanh Am. Vì vậy nhiều người Vĩnh Bảo nói làng Hoa Am hay Thanh Am ở Gia Lâm hay Đông Anh hoặc Bắc Ninh đều đúng.

Sáu làng Tạ:

1-    Nội Tạ (xã Lý Nhân nay là xã An Hòa ngày nay)

2-    Trung Tạ (gồm Tạ Ngoại thuộc xã Lý Nhân và An Lãng thuộc xã Liên Giang, nay là xã An Hòa ngày nay)

3-    Tây Tạ (Thượng Đồng – xã An Hòa và Hạ Đồng – xã Cộng Hiền ngày nay)

4-    Bắc Tạ (xã Hùng Tiến ngày nay)

5-    Nam Tạ (xã Tân Hưng ngày nay)

6-    Đông Tạ (thị trấn Vĩnh Bảo ngày nay)

        Còn một tư liệu đáng quý nữa mà nhiều người dân Hải Phòng chưa biết: Theo các sách sử Nữ tướng Lê Chân, người có công lớn trong việc chống giặc và khai khẩn lập nên trang An Biên (tên Nôm là Vẻn) mất một thời gian thì lần lượt các làng Vẻn xuất hiện: Một làng Vẻn ở khu vực phần lớn diện tích đất các quận Ngô Quyền, Lê Chân, Hồng Bàng của thành phố Hải Phòng ngày nay, một làng Vẻn ở quê bà tại xã Thủy An, thị xã Đông Triều, Quảng Ninh và một ở bên tả quốc lộ 10 gần sông Hóa thuộc xã Hưng Nhân – Vĩnh Bảo do nhóm cư dân từ làng Vẻn nội thành Hải Phòng về khai hoang lập ấp... vào thế kỷ thứ XV.

Ngọc Tô