/Chắc môn lý và trò văn...trái dấu.Trò học hoài nhớ mãi... kính thầy thôi/ Thơ Quỳnh Anh

VIDEO

HỖ TRỢ

QUẢNG CÁO

LỊCH

LIÊN KẾT

Tin trong Nước

THÔN THỦY AM THUỘC XÃ CỔ AM HUYỆN VĨNH LẠI

Một lần nữa có thể khảng định làng Bến Am (hay Thủy Am) được thành lập tại khu vực gần chùa Bến ngày nay là có cơ sở!
                    THÔN THỦY AM THUỘC XÃ CỔ AM HUYỆN VĨNH LẠI
.     

        Rong ruổi trên con đường thời gian đầy cam go vất vả để tìm lời giải đáp một câu ca “Thập bát trang Am, sang Nam mất một” đã có từ nửa thiên niên kỷ trước? Có người còn gợi ý mở hội thảo,… nhưng tất cả chỉ là sự không tưởng, vì ngay chính những người trong cuộc từ xưa tới nay còn chẳng quan tâm nữa, thì ai tham gia hội thảo, ai trả lời... Cũng như việc ngôi đình Cung Chúc 2 lần (năm 1962 và năm 2008) được Nhà nước cấp bằng “Di tích Văn hóa cấp quốc gia”, mà chẳng tìm được nguồn gốc, xuất xứ… nữa, rồi cuối cùng để tay nhà văn dở hơi đi tìm...?

       Còn việc thiếu một làng Am nữa, tôi đã nhờ tới các chuyên gia đầu ngành của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện KHXH Việt Nam, Hội Văn hóa Dân gian, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa ở Hải Phòng, ở tất cả các xã trong lục tổng và một số địa phương trong huyện Vĩnh Bảo. Lúc đầu ai cũng hăng hái cho là dễ lắm, nhưng lúc đếm đi đếm lại vẫn bị thiếu từ một đến hai làng Am. Có một tiến sỹ người lục tổng còn ghi vào sách sáng tác văn học của mình hẳn hoi là 17 làng Am, trong đó có Bầu Am, Cõi Am, Triều Am,… nhưng khi tôi điện trực tiếp hỏi ở xã nào hiện nay thì anh ta cũng “lắc đầu quầy quậy”. Rồi có một cán bộ văn hóa xã ở tổng Ngải Am, lúc đầu nói dễ ợt, sau nửa ngày tôi gọi lại thì đáp “Cháu xin lỗi vì thày cháu ngoài 80 rồi còn chịu, cháu biết trả lời chú sao đây”…

       Bằng những kiến thức mà mình nắm được, cộng thêm với giác quan thứ 6, ta có thể nhận định rằng: Tên các làng Am được đặt vào thế kỷ XV và thế kỷ XVI, còn 18 làng Am là có thật, nó chỉ mất khi bị sát nhập hoặc mất tên làng vì một lý do đặc biệt nào đó. Tôi phải lật tìm các loại sách cổ cả bằng chữ Hán và quốc ngữ xem chỗ nào liên quan tới mảnh đất lục tổng là quan tâm. Đặc biệt là các sách Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục và Đăng khoa lục sưu giảng ghi quê quán những nhà khoa bảng Việt Nam từ năm 1075 đến năm 1919.

       Lúc đầu chúng tôi nghi vấn ở khu vực mấy tổng phía trên, rồi lần mò từng tổng một, cũng chưa có kết quả gì khả quan. Cách đây mấy ngày, tôi bổ sung thêm vào danh nhân của làng Cổ Am gồm 40 Đại tá và 51 Thượng tá. Bằng cảm quan, nghi làng Am này là hai làng Am chứ không phải là một. Vì sao làng Cổ Am xưa có tới 5 xóm (nay là 5 thôn) với diện tích gấp mấy lần các làng Am khác bên cạnh. Rồi từng bước đọc các tài liệu để kiểm tra lại giác quan thứ 6 của mình có chính xác không?

       Cổ Am (古庵) lúc đầu tên là Úm Mạt, rồi là Kẻ Am cũng như nhiều làng xã ở miền Bắc như: Kẻ Sặt (Hải Dương), Kẻ Vẽ, Kẻ Đơ, Kẻ Đáy, Kẻ Giàn, Kẻ Mía, Kẻ Bưởi… ở Hà Nội với những câu lục bát khá ấn tượng: “Em là con gái Kẻ Đằng. Bên Tần bên Sở biết rằng theo ai”. Hay: “Hỡi cô thắt lưng bao xanh. Có về Kẻ Vẽ với anh thì về. Kẻ Vọng khéo ngọc khéo ngà. Đưa đem đi bán cho nhà giàu sang. Kẻ Lủ thì bán bỏng rang. Trên ô hàng Đậu lắm hàng nhiều thay” Hay: “Rượu Kẻ Mơ. Cờ Mộ Trạch”,v.v.


Bia đá vuông của chùa Phúc Sinh (làng Bến  Am)

       Và cái tên Kẻ Am trùng với khoảng thời gian được đặt tên Nôm với các làng cổ trên. Vì chữ Kẻ (là tên Nôm) khi viết chữ Hán thì phải viết là chữ Cổ, do vậy sau này gọi Kẻ Am hay Cổ Am là như vậy. Còn theo công trình nghiên cứu của chúng tôi về 18 làng Am thì làng Cổ Am, Thượng Am ra đời sớm nhất. Đến thời điểm hiện tại người xã Cổ Am cổ có 4 thôn (Phần, Hà, Tràng, Thượng) nơi đây vẫn gọi thôn Phần là làng Cổ, còn khu vực chỗ chùa Mét (làng Thượng) do vợ chồng Cử nhân Trần Khắc Trang (vợ là Đỗ Quý Thị Ngọc Cực) từ Trần Xá, tỉnh Hà Nam về tới khai hoang tại rừng Mét vào đầu thế kỷ XV và mang nghề ươm tơ nuôi tằm đến mảnh đất này.

       Ngoài thôn Cổ ra thì có thôn Bến Am (变庵), mà người quanh vùng gọi là Thủy Am (水庵)vì đây là khu vực trũng nhất, nằm gần khu vực chùa Bến là làng Am thứ 18, nhưng đã sát nhập với làng Cổ để thành xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương và mất tên, mất tên vào thời Lê trung hưng (khoảng gần 400 năm) vì làng Cổ có khá nhiều tiềm lực như kinh tế, chính trị, quyền lực, ngoại giao…

       Khi chúng tôi đưa có thôn Bến Am ra thì nhiều người ở Cổ Am hơi bị bất ngờ. Song ta có thể hiểu thêm, không bao giờ chùa làng lại xây xa làng Cổ Am cổ chừng hơn một ki-lô-mét. Và câu nói “đất vua, chùa làng” cho ta biết nơi nào có dân thì có chùa, hay câu “trẻ vui nhà, già chơi chùa” và thông thường chùa là nơi thờ Phật, được xây dựng ở nơi cao nhất làng. Không một làng xã nào của miền Bắc lại xây chùa cách trung tâm làng hơn một cây số và nơi ấy là một vùng trũng. Ngày trước chỉ có đường đất sét những làn sống trâu uốn lượn, hơi mưa một chút thì trơn trượt khủng khiếp, mà đi chùa toàn là bậc cao niên.

       Khi ấy Cổ Am (古庵) còn là một thôn có nhu cầu phát triển thành xã (có từ 110 hộ gia đình trở lên) thì quan địa phương ghép thêm thôn Bến Am (变庵) vào nữa và được tri huyện chấp nhận là xã Cổ Am và lúc này mới có cơ quan hành chính xã như lý trưởng, chánh hương hội, hội đồng kỳ mục...

       Còn chùa Phúc Sinh là lấy tên hiệu Phúc Sinh Long Dục của một nhân thần có công với đất nước và xây dựng chùa. Từ thời nhà Nguyễn trở về trước, chúng tôi chưa có số liệu, nhưng đến đời vua Khải Định năm thứ 9 (1924) phong sắc cho Phúc Sinh Long Dục tôn thần với mỹ tự Túy Mục Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng thần. Chỉ cần nhìn vào mỹ tự “Túy Mục” ta có thể nhận ra đây là một nhân thần và người có công rất lớn với đất nước với nhân dân.

       Theo thần phả chùa Bến thì công trình này được làm từ sau thế kỷ XIII và được tôn tạo lớn vào năm Long Đức thứ 3 (1734) đời vua Lê Thuần Tông tại địa điểm sát đê sông Hóa như ngày nay. Thiên đài thạch trụ (tấm bia vuông bằng đá, có kích cỡ  0.25 x 0.25 x 1.5 mét đặt trước chùa, mà phần trên 4 mặt đều ghi bằng chữ Nho là Phúc Sinh tự, mặt sau khắc: Xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, công đức gồm vị Tri huyện Nguyễn Hữu Lý (tên quá mờ) cùng vợ là Trần Thanh Tán. Hội chủ Nguyễn Tiến Dụ cùng vợ là Trần Thị Chúc. Hội chủ Đào Thị Chân, Nguyễn Ngọc Tài. Mặt trước ghi: Hoàng triều Long Đức tam niên hạ nguyệt cốc nhật (ngày lành tháng 4 năm 1734).

       Một lần nữa có thể khảng định làng Bến Am (hay Thủy Am) được thành lập tại khu vực gần chùa Bến ngày nay là có cơ sở!
                                                                       Ngọc Tô