ĐỌC “PHẬN KIẾN”-TIỂU THUYẾT CỦA TÔ ĐỨC CHIÊU
CAO NĂM
Với 464 trang sách in khổ 13 x 20 Cm, tiểu thuyết “Phận kiến” của nhà văn Tô Đức Chiêu (nhà xuất bản Hội nhà văn), như một bức tranh chân thực và ấn tượng về những ngày tháng khó quên của đầu thập niên 80 thế kỷ 20. Tiểu thuyết lấy bối cảnh chính là một nơi thuộc tỉnh Hải Hưng với những nhân vật từ lãnh đạo, trưởng ty đến giám đốc nông trường, công nhân, nông dân, rồi cán bộ, nhân viên, nhà giáo, học sinh đến người buôn thúng bán bưng. Dù họ ở tầng lớp nào, giữ cương vị gì, trách nhiệm xã hội nhiều hay ít, hết thẩy đều chung mối lo làm sao để mỗi người, mỗi nhà, rộng ra là huyện, tỉnh được ăn no, mặc ấm, không còn cảnh hiềm khích, đố kỵ, thậm chí nghi ngờ nhau như kẻ thù mà căn nguyên có khi chỉ vì nhà đó hơn nhà mình là có cái tủ lạnh “ăn cắp” điện chạy mỗi đêm lấy vài cân đá bán kiếm tiền rau mắn cho con. Ở thời buổi mọi thứ đều thiếu thốn, kể cả niềm tin, nhưng ai ky bo, kèn cựa, đố kỵ thì cứ việc, chứ những người từng sát cánh bên nhau trước mũi tên hòn đạn như Đức và Chiến Hào, từng no đói có nhau, hiểu nỗi lòng nhau đến chân tơ kẽ tóc như Đức và Nga, rồi Tạn và Bài, giám đốc nông trường, một người ít học nhưng dễ tin và đã tin thì không gì có thể lay chuyển, tất cả họ vẫn sống hết mình, sống có tình, có nghĩa, đùm bọc và bao dung.
Tiểu thuyết cho người đọc, nhất là bạn đọc trẻ, thấy hoàn cảnh của quê hương, đất hương ta những năm sau 30 năm chiến tranh ác liệt, vừa thống nhất non sông, với biết bao khó khăn chồng chất hiển hiện ngay trong mỗi gia đình, trong bữa ăn và cả trong giấc ngủ. Cảnh vợ chồng Chiến Hào tranh thủ ngày nghỉ đèo nhau trên chiếc xe Cá Xanh chở vải từ Hải Hưng lên Hà Nội bán, luồn nách trong chợ Gầm Cầu, vợ Chiến mua cái màn tuyn định mang về Hải Dương bán kiếm đồng chênh lệch, chẳng may bị kiểm tra liên ngành bắt giữ. Đức sau những năm vào sinh ra tử ở chiến trường, khi xuất ngũ không may đi tàu mất hết giấy tờ, về địa phương thành kẻ “đào ngũ”, bị đưa đi lao dịch làm đường tàu ở Chí Linh. Trong khi Đức đi làm đường tàu thì Huệ, cô đẹp như tiên sa, ở nhà đi theo trai có con; biết tin, hết hạn “lao dịch” Đức chán không về quê tận huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, mà ở lại Chí Linh lấy đánh bắt cá tôm bên hồ làm kế sinh nhai. Nhưng số trời đã định, Đức dẫu chạy trốn thực tại phũ phàng thì thực tại vẫn như tấm lưới dăng phía trước chỉ chờ cơ hội chụp lên đầu anh. Chỉ khác lần này là tấm lưới ái tình, hay rộng ra là tình yêu thương giữa những người cùng khổ, đã đưa bước chân Đức đánh cá đến với mẹ con chị Nga, người đàn bà đẹp người đẹp nết, nhưng không may một lần từ quê trở lại nông trường, đêm chờ xe ở thị xã Hải Dương bị kẻ xấu lừa, rồi hãm hiếp, sinh đứa con gái không có bố. Vào thời đó, đấy là cái tội không thể tha thứ, hơn thế, trước ông Bài, giám đốc, và những cán bộ như Lâm, trưởng phòng hành chính nông trường, Nga nhất định không khai ra sự thật, vì chị biết có khai người ta cũng không tin, thà im lặng để sinh con, bởi với chị đứa con khi ấy là tất cả. Thế là Nga bị đuổi khỏi nông trường, như một kẻ tội đồ. Giữa lúc không biết đi đâu về đâu, chị nghĩ tới Đức, anh chàng đánh cá ngày thường hay qua lại chỗ lán của mẹ con chị, chỉ có Đức mới có thể cưu mang mẹ con Nga qua cơn bĩ cực. Nhưng ái oăn thay, khi hai mẹ con dắt díu nhau luồn qua hết cánh rừng này sang khe suối khác, tìm đến cái lều nằm bên hồ thì lều đã trống trơ. Không hiểu sao, chính lúc ấy Nga lại tin Đức không bỏ đây mà đi, chẳng qua là anh chỉ đi đánh cá mải chưa về. Quả thế, Đức đã quay về và sống với Nga những ngày hạnh phúc với đầy đủ ý nghĩa vợ chồng, rồi Nga sinh cho Đức đứa con trai bụ bẫm. Con người dù bị dồn đến tận cùng vẫn không chịu gục ngã, bởi trên mọi khổ đau là tình người chở che ấm áp, yêu thương nhau, chính cái đó làm cho con người ta lớn lên, tự tin, bước tiếp. Nhưng sau lần về quê Kiến Thụy, Hải Phòng, thấy bà con đồn chuyện xã Đoàn Xá giao ruộng khoán cho xã viên, cái máu mê đất trỗi dậy trong Đức, cộng với sự thúc bách của gia đình, thế là Đức trở lại với mẹ con Nga, tìm mọi cách thuyết phục Nga đưa con về quê mình. Nhưng Nga vì nặng tình với đất Chí Linh, vì ngại về quê Đức vợ nọ con kia, nhất định không về; thế là giữa đêm Đức đùng đùng bỏ Nga một nách hai con nhỏ để về quê. Nhưng anh mới về đến nhà vợ chồng Chiến Hào ở thị xã Hải Dương, thì Chiến biết chuyện, khuyên Đức nên làm lành với hai người đàn bà thì hơn là bỏ người nọ đi với người kia, như sự trút bỏ trách nhiệm làm cha làm chồng như thế. Với bản chất tốt đẹp tiềm ẩn, Đức nghe lời Chiến Hào trở lại Chí Linh làm lành với Nga, sau đó về quê chủ động đi tìm Huệ. Sự thức tỉnh tình người trong Đức vừa là ý thức chủ quan nhưng cũng là ý thức khách quan, một khi những người xung quanh đừng bỏ rơi bạn bè, đồng loại mình đang gặp sự buồn chán mà hãy lấy tình người, tình bạn hữu để chia sẻ, khuyên can, thì cũng rất dễ làm bạn bè lấy lại được thăng bằng. Tiểu thuyết mang đậm tình người, lòng nhân ái, bao dung và vị tha.
Ngay cả những việc tưởng như mâu thuẫn giữa Đức đầu lĩnh với Tạn, khi Tạn còn làm trưởng một phòng ở ty nông nghiệp, hay sau này ông về làm giám đốc nông trường thay ông Bài nghỉ hưu, thì suy cho cùng đều do nhận thức và trọng trách từng người mà nảy sinh ra thế, hay nói cách khác là không hoàn toàn do nhân cách của Đức đầu lĩnh hay Tạn, ông Bài. Điều đó được nhà văn gián tiếp thừa nhận khi để Đức đầu lĩnh nhân một chuyến công tác sang Lào đã dành thời gian chuyện trò lâu với Tạn, khi ấy sắp hết hạn hai năm làm trưởng đoàn chuyên gia nông nghiệp của Hải Hưng ở Lào. Qua đấy người đọc cũng hiểu những điều cứng nhắc, rập khuôn, cố hữu không thể mãi là “pháo đài” một khi có sự tác động mạnh của tình người cảm thông và chia sẻ với nhau, lại được chỉ dẫn dưới một đường hướng đúng thì dẫu nhận thức, suy nghĩ và cách sống có khác nhau, người ta vẫn có thể bỏ qua cho nhau để ngồi lại chuyện trò cởi mở giữa người với người.
Đấy có lẽ là những gì nhà văn Tô Đức Chiêu muốn gửi đến người đọc qua cuốn tiểu thuyết về một thời đáng nhớ “Phận kiến”. Cuốn sách gần 500 trang ngồn ngộn chất liệu đời sống, trải rộng không gian qua mấy tỉnh, thành phố với thời gian dài hằng chục năm, từ những năm cuối thời bao cấp đến năm đầu công cuộc đổi mới đất nước, bao gồm mấy chục nhân vật thuộc nhiều lứa tuổi. Nhưng với cách viết chân thực và thoáng, hoạt, nhà văn Tô Đức Chiêu đã mang đến cho người đọc một cái nhìn khách quan, trung thực và cởi mở về một thời quê hương, đất nước chồng chất khó khăn nhưng cũng đầy ấn tượng, để lại trong lòng những người từng sống những năm tháng ấy bao kỷ niệm khó quên, còn với người trẻ hôm nay qua, “Phận kiến” có dịp hiểu và cảm thông với lớp người đi trước được nhiều điều./.
CN |