Thi Hoàng ở ẩn trong thơ
Kiêu bạc chăng? Chán chường chăng? Không biết. Chỉ biết từ hồi nghỉ công tác đến giờ, ngoài việc lo biên tập cho tạp chí Cửa Biển, anh chẳng đi đâu nữa, không tham gia bất kể việc gì ngoài xã hội. Ngay cả đến cái tổ chức nghiệp đoàn văn chương, nơi được coi như mái ấm của mỗi người cầm bút, anh cũng không màng. Ngày thơ hàng năm diễn ra rất sôi nổi trong suốt ba miền, một ngày hội của các thi nhân cả nước, vui đến nổ trời nhưng vắng bóng anh. Hội nghị giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài, từ trước đến nay chưa từng có, bao nhiêu người háo hức tham gia, giấy mời rất sang, lại có xe đến đón, anh cũng không đi, chỉ gật đầu cám ơn và đặt tấm giấy mời lên giá sách làm kỉ niệm.
Về Hải Phòng, qua thăm Đình Kính, Bão Vũ, Kim Chuông và một vài bạn văn đất Cảng, gia đình nhà cửa, cách sinh hoạt và sáng tác mỗi người mỗi vẻ khác nhau, đã thấy nhiều cái lạ. Nhưng lạ nhất là khi đến bác Thi Hoàng. Hơn chục năm không gặp thấy anh già đi nhiều quá. Già và cũ, thậm chí còn có vẻ quê quê. Râu tóc rùm ròa, áo quần xộc xệch, và nếu tôi không nhầm thì anh mặc quần bò buộc dải rút chứ không dùng thắt lưng da. Một ông già Khốt - ta - bít đi đứng lom khom trong gian nhà cấp bốn tuềnh toàng chứa toàn đồ cổ. Tôi ngồi khoanh chân trên chiếc chiếu đơn trải sẵn dưới nền nhà, chăm chú nhìn anh lụi cụi pha trà bằng bộ ấm chén da lươn nhỏ xíu, lại nhìn lướt qua khu vườn rộng um tùm cây cối bên ngoài, cảm thấy mình như lạc vào một thế giới khác, hoang vắng cũ xưa hiếm thấy ở thời nay, càng hiếm hơn khi bắt gặp nó ngay giữa một thành phố lớn, một khu công nghiệp hiện đại như thành phố Cảng.
Bạn bè ở Hải Phòng cho biết Thi Hoàng sống như vậy đã hàng chục năm rồi. Hàng chục năm chỉ ở nguyên một chỗ, không mấy khi ra đến ngoài, rất ít giao du, xê dịch, càng không bao giờ xuất hiện trước đám đông. Thi thoảng có ngồi với ai cũng rất kiệm lời, ai nói gì cũng chú ý nghe nhưng không hề tỏ ra ngạc nhiên trước bất cứ điều gì. Có cảm giác anh chỉ ngồi một chỗ thôi nhưng mọi chuyện trên đời đều biết hết. Nghe Kim Chuông thông báo về công việc của tôi hiện giờ, anh gật gật: “Được rồi được rồi. Huệ làm được đấy!”. Tôi hỏi sang chuyện sáng tác, anh lại gật: “Được rồi được rồi. Mình sẽ tặng sách ông”. Kim Chuông ngỏ ý rủ anh và tôi đi chơi vài chỗ bằng xe con của Tô Ngọc Thạch, anh vẫn lặp lại cái điệp khúc quen thuộc ấy: “Được rồi được rồi...”.
Cái gì anh cũng bảo được rồi. Nhưng hình như anh chẳng quan tâm đến điều gì hết. Hình như đối với anh, mọi thứ trên đời chả có gì quan trọng.
Hoa sen không định thơm
Không định thơm thì mới thơm như thế...
Thơ Thi Hoàng hay chính Thi Hoàng đó? Tôi thầm nghĩ. Anh là sen, còn mọi thứ xung quanh chỉ là bùn. Phải vậy chăng?
Ta ra điên hay trời bỗng khác thường
Không có hương sen thì trời sẽ sập
Không có hương sen thì ta thối nát
Song, đấy là điều không dễ có ai tin...
Kiêu bạc chăng? Chán chường chăng? Không biết. Chỉ biết từ hồi nghỉ công tác đến giờ, ngoài việc lo biên tập cho tạp chí Cửa Biển, anh chẳng đi đâu nữa, không tham gia bất kể việc gì ngoài xã hội. Ngay cả đến cái tổ chức nghiệp đoàn văn chương, nơi được coi như mái ấm của mỗi người cầm bút, anh cũng không màng. Ngày thơ hàng năm diễn ra rất sôi nổi trong suốt ba miền, một ngày hội của các thi nhân cả nước, vui đến nổ trời nhưng vắng bóng anh. Hội nghị giới thiệu Văn học Việt Nam ra nước ngoài, từ trước đến nay chưa từng có, bao nhiêu người háo hức tham gia, giấy mời rất sang, lại có xe đến đón, anh cũng không đi, chỉ gật đầu cám ơn và đặt tấm giấy mời lên giá sách làm kỉ niệm.
Bạn bè bảo rằng ngoài việc làm thơ, Thi Hoàng còn có thú chơi đồ cổ. Đồn rằng đồ cổ của anh đắt giá lắm, đã có vị đại gia gạ đổi một chiếc xe Camry ba chấm mới tinh lấy một con nghê bằng đá của anh nhưng không được. Dứt khoát anh không đổi, chỉ để bày chơi. Con nghê ấy có từ thời ông Bành Tổ chăng, sao mà quí vậy? Không ai giải thích, chỉ nghe nói rằng chính vì cái thú chơi ấy mà anh không muốn đi đâu hết, lại có người nói rằng anh không dám đi đâu vì sợ trộm vào nhà thuổng mất những món đồ cổ quí hiếm này. Thật thế chăng? Hay còn lý do gì khác?
Ý hóa bãi lầy làm lời trượt ngã
Lời ơi lời bùn đất có thương không
Hay cú ngã ấy ở trên bùn đất giả
Và câu hỏi kia là của kẻ dối lòng...
Không, anh không phải là người kiêu bạc. Hoàn toàn không phải thế. Hình như ở anh có điều gì đó còn canh cánh bên lòng, khó giãi bày được với ai.
Có đôi điều chưa biết nói cùng ai
Đấng sáng tạo ở đâu mà cứ để con người
bị giằng xé giữa muôn trùng phải trái...
Càng đọc Thi Hoàng, nhất là những bài thơ mới viết gần đây, tôi càng cảm thấy việc anh không đi đâu không phải vì lý do gì khác ngoài chuyện anh muốn thu mình lại, không muốn nhìn thấy những gì đang diễn ra ở xung quanh, hình như những gì nhìn thấy hàng ngày chỉ làm anh thêm mệt mỏi.
Ta bây giờ khác như... người khác
(Ta có thể làm thơ về nhọc mệt
để cho trữ tình xin gọi mệt là em)
Ta nghiêm chỉnh đừng bảo ta phá thối
Thở dài vặn lưng em đẹp thế, ta thèm...
Lần giở lại những bài thơ anh viết trước kia, thấy quả là Thi Hoàng đã khác đi nhiều lắm. Trời cứ xanh như rút ruột mà xanh/Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc.../ Đã không ít người yêu thích những câu thơ như thế của anh, còn anh thì từ lâu rồi đã không thích nữa. Từ lâu rồi anh không muốn hướng về phía đám đông mà cất cao giọng hát, chỉ lặng lẽ nhìn sâu trong tâm thức của mình để rồi khẽ khẽ thốt lên như tâm sự với chính mình bằng một giọng trầm u uẩn:
Bổn phận là con chim đậu xuống vai mình
Đất để chôn người chết còn trái tim để chôn người sống
Đất và trái tim biết nhau từ rất lâu rồi
Và phép nhân vẫn san sẻ bù trì cho phép cộng
Và chữ tồi bớt dấu huyền đi để thành tôi...
Một nhà thơ trẻ nói rằng trong cái thời buổi nhiễu nhương hỗn loạn này mà cứ tuôn ra những câu thơ đèm đẹp thì không ai chịu nổi, thậm chí còn có thể coi đó là sự đồi trụy trong tâm hồn của nhà thơ. Đó cũng là một góc nhìn, thể hiện nhân cách lớn lao của người cầm bút. Thi Hoàng cũng vậy. Những điều chướng tai gai mắt, thậm chí vô đạo vô luân diễn ra hàng ngày làm anh không chịu nổi, phải bật ra những câu thơ bi phẫn:
Có thể là bàn ghế chính trường hay váy áo thơ ca
ăn như phù thủy ăn ma
Như mỹ nhân ăn tướng tá
Răng mọc nanh hùm môi chìa mỏ quạ
Đời làm ta sợ hãi chính ta
Đọc thơ anh, ngẫm về anh, càng thêm quý trọng anh. Nhưng thực tình tôi chẳng muốn anh suốt ngày sống trong tâm thế đó. Thi ca vốn là trái tim của Thượng Đế, là sức sống của muôn loài, là vẻ đẹp của trần gian. Không có lẽ chỉ có một góc nhìn như vậy? Còn có những góc nhìn khác nữa, chính anh đã chẳng từng bắt gặp đó sao:
Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất
Làm được buổi chiều rất giống ban mai
Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được
Ngài ở trong kia hay ở ngoài này
Những câu thơ tươi sáng tuyệt vời như vậy chắc trong anh còn đấy, còn nhiều đấy. Chúng được sinh ra từ một cuộc dạo chơi và tâm hồn rộng mở trước cuộc đời. Tôi nghĩ giá anh đừng tự giam mình lại, hãy bước ra ngoài, chắc sẽ nhặt được nhiều hơn những câu thơ như thế nữa. Không chỉ có trẻ em đâu, người lớn cũng vậy mà. Dân ta vốn thế, từ xa xưa cho đến bây giờ, dù phải chịu bao tai ách, bị dập vùi bởi những thế lực này kia, bởi cái giả đang chế ngự khắp nơi làm mất dần cái thật, họ vẫn luôn tìm thấy niềm vui sống. Không tìm thấy niềm vui trong cuộc đời thì tìm thấy trong lao động, trong áng mây chiều vui lúc nghỉ tay, nhìn sóng sông sóng đồng xô vẫy quanh mình, nhìn vòm trời xanh cao lồng lộng với niềm mặc khải về một thứ thần lực mơ hồ nào đó hàng ngày ban giải khắp thế gian, điều mà chính anh đã từng nhắc đến:
Trước khi gõ tiếng chuông ở đâu
Trước kia hồn ta ở thịt xương nào
Hỏi vậy vào một sớm mùa thu sao mà văng vẳng
Nắng rươm rướm chiết ra từ tiếng vọng
Lá cây nhằm chỗ rơi rồi mới rơi vào...
Hãy nhằm chỗ rơi rồi mới rơi vào. Thi ca cũng vậy. Ngày xưa Thi sĩ Hoàng Cầm (người mà Hội chúng ta vừa chịu tang xong), khi gặp nạn trở về Kinh Bắc (gặp nạn hẳn hoi chứ không chỉ là mặc cảm tinh thần) nhưng ông đâu có chịu giam mình vào một chỗ. Ông vẫn vui chân đi giữa cuộc đời, vẫn là ca sĩ của nhân dân và vẫn cho ra đời những câu thơ tuyệt diệu:
... Đê mười tám khúc Văn Giang
Chuông bách môn đổ xô gò má
Mây thành thổi lửa
Nẻo Đông Triều khép mở gió kỳ lân
Chớp giật giáng Tiên vén xiêm xõa ngủ
Thoắt chìm gấu đẩy đá thiên thai...
Và :
Đêm xuống làm lầu hoang
Trò chuyện nhiều ai đâu
Mồ tháng giêng mưa sũng
Đầm ca dao sáo diều
Chiều lịm tím lưng trâu...
Thơ Hoàng Cầm 40 năm trước đấy. Ông bị nạn nhưng không ở ẩn mà đi khắp mọi miền. Nhìn đời, nhìn mọi thứ bằng nhiều góc cạnh, gạn đục khơi trong cho cây đàn thơ muôn điệu ngân lên.
Còn Thi Hoàng thì sao? Liệu anh có học người đi trước, rời nơi ở ẩn, bước ra ngoài, để tắm mình trong nắng gió chan hòa trên mọi bến bờ xa nơi hương đồng gió nội, để ngợi ca sen cho sen cứ nở gần bùn. Cứ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn và không định thơm thì mới thơm như thế...
Thành phố Cảng đầu hè 2010
N.T.V
Nguon theo hoinhavanvietnam
|