Bến Văn
Trong làng văn ta có những người may mắn được trời phú cho nhiều năng lực khác nhau, có thể làm nhiều việc cùng một lúc, thích ứng nhanh với mọi biến động, đổi thay thời cuộc. Vừa là nhà văn, nhà thơ, vừa là nhà quản lý sản xuất kinh doanh... cái gì động đến cũng thành. Gặp thời đổi mới bung ra, càng có cơ hội phát triển. Ấy nhưng, vẫn không bỏ được nghiệp văn vốn phát lộ từ thời trẻ. Lại dùng chính cái sự ngược xuôi bươn trải ấy làm vốn liếng để đưa vào trang viết khiến những con chữ vừa sống động vừa đầy sức nặng, gửi gắm được khá nhiều sự chiêm nghiệm trong từng bước ngoặt cuộc đời. Có lẽ vì thế, tuy viết không nhiều, nhưng càng viết càng hay, càng đọc càng thấy nể.
Nhà thơ Vũ Từ Trang là một trong những người như vậy. Lần đầu tiên đến nhà anh tại phố Bạch Mai giữa lòng Hà Nội, tôi phải phát ngốt lên trước một cơ ngơi cực kì hoành tráng. Một ngôi nhà ba tầng với tổng diện tích trên 600 m2, trừ mấy phòng phía trong dùng làm nơi sinh hoạt gia đình, còn toàn bộ được dùng làm cửa hàng kinh doanh đồ gỗ cao cấp, không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu. Xem ra phần lớn là những bộ sa-lông cỡ lớn, các loại giường tủ với đủ các kiểu dáng khác nhau, được sản xuất từ một xưởng mộc vùng làng nghề nổi tiếng Đồng Kỵ, gồm mấy chục công nhân do chính nhà thơ đứng ra thành lập. Khi tôi đến anh đang chỉ huy tốp thợ sửa lại đường điện sản xuất vừa bị sự cố sau trận bão vừa qua. Cũng áo quần bảo hộ lao động, miệng nói tay làm như một công nhân thực thụ, tịnh không có chút thơ phú văn chương gì hết. Tôi nhìn anh không giấu nổi nụ cười. Anh cũng cười, khẽ vẫy tay một cái thay cho lời chào rồi tiếp tục công việc đang làm dở. Tôi lặng lẽ lẩn vào trong, tạm sắm vai một khách mua hàng, đi vòng quanh nhìn ngắm mấy bộ bàn ghế kiểu cổ khảm trai mang dáng dấp cung đình, bụng nghĩ: “Giá không được bạn bè cho biết trước, chưa chắc mình đã nhận ra đây là Vũ Từ Trang !”.
Vũ Từ Trang tên thật là Vũ Công Đình, người xứ Bắc Ninh, làm thơ, viết văn, khảo cứu sưu tầm, viết chân dung văn học, thể loại nào cũng xông vào và ít nhiều đều gặt hái được thành công. Anh xuất hiện trong làng văn từ thời chống Mỹ và ngay hồi đó, với những chùm thơ đầu tiên in báo Văn Nghệ, đã được xem là một trong những anh tài vùng Kinh Bắc. Lúc bấy giờ người viết chưa nhiều và báo Văn Nghệ còn cao giá lắm, sang trọng lắm, cây bút nào được giới thiệu ở đây gần như đã được khẳng định, cả nước đều biết tiếng. Nhiều bạn văn khi đó rất vui mừng chào đón Vũ Từ Trang. Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, Tạ Vũ, Lê Bầu, Lữ Giang... ở Hà Nội; Thanh Tùng, Đào Cảng, Tùng Linh ở Hải Phòng; Phạm Doanh, Yên Đức, Đào Ngọc Vĩnh ở Quảng Ninh... Riêng Lưu Quang Vũ thời lận đận, thì chơi rất thân với Vũ Từ Trang, chia sẻ với nhau không chỉ những câu thơ tâm huyết mà cả từ bữa cơm đạm bạc ở một cái quán “đầu ghế” trong ngõ nhỏ (thời đó chưa có từ cơm bụi). Vì thế sau này, khi Lưu Quang Vũ ra đi, Vũ Từ Trang đã viết những trang đầy thao thiết về kỉ niệm giữa hai người một thời đam mê khổ hạnh không thể nào quên ấy. Và tôi cho đó là một trong những bức chân dung văn học đẹp nhất trong đường văn của Vũ Từ Trang cũng như trong nền văn học nước nhà. Cảm động biết bao khi đọc những dòng này:
“... Vũ kéo tôi vào quán cơm đầu ghế ở góc chợ Hôm. Đấy là cái quán cơm nghèo, dành cho những người lao động bần cùng của xã hội... Bà bán cơm hình như đã quen khách hàng, mời Vũ một miếng cháy cậy ở đáy xoong chín vàng. “Mời cậu. Cháy ngon cậu ạ!”. Vũ đáp: “Dạ, xin bác!” rồi bẻ đôi miếng cháy chia phần cho tôi. Đấy là những ngày Vũ sống một mình. Nhưng cũng là thời Vũ viết nhiều thơ nhất. Và có lẽ cũng là thời mà thơ Vũ mở ra một dòng cảm xúc quặt thắt và mạnh mẽ nhất. Buồn chán, cô đơn, bi quan nhưng không bao giờ bi lụy, không chút gì hằn học và xỉa xói cuộc sống. Anh chỉ kêu lên nỗi buồn thương trong thơ. Đây là thời kì Vũ viết thơ với giọng điệu, nỗi niềm riêng biệt nhất...”.
Đọc Vũ Từ Trang viết về bạn mình, phần nào cũng hiểu được anh. Một tâm hồn nhạy cảm và đầy lòng thương mến.
Nếu tôi không nhầm thì lần đầu tiên tôi gặp Vũ Từ Trang là năm 1973. Bấy giờ anh là phóng viên tạp chí Xây Dựng, còn tôi làm công nhân xây dựng nhà máy điện Uông Bí - Quảng Ninh, vừa được giải nhất cuộc thì viết bút kí do Bộ Xây dựng và Đài TNVN tổ chức. Giám đốc công ty tôi lúc đó là ông Lê Văn Sang, một nhà quản lý năng động và rất yêu văn học. Biết Vũ Từ Trang xuống viết bài về công ty, ông mừng lắm, tổ chức luôn một cuộc gặp mặt giữa nhà thơ kiêm nhà báo “của Bộ ta” với những người sáng tác trong đơn vị, trong đó có Phạm Doanh, Trí Dũng, Long Chiểu và tôi, ngoài ra còn mời các anh ở cơ quan bạn như Yên Đức, Nam Ninh, Tạ Hữu Đỉnh cùng đến dự. Vũ Từ Trang tỏ ra hết sức ngạc nhiên vì xứ Uông Bí khỉ ho cò gáy này mà hội tụ lắm anh tài đến thế. Sau phần giới thiệu và phân ngôi chủ khách, Long Chiểu đứng lên đọc bài thơ mới viết của mình, rồi mọi người lần lượt đọc thơ. Thế là tự nhiên thành ra một đêm thơ, vui như tết. Và cố nhiên, hình ảnh tôi nhớ nhất trong đêm thơ ấy là nhà thơ Vũ Từ Trang với giọng đọc thơ đầy truyền cảm của mình. Những câu thơ anh trình làng đêm ấy đến bây giờ tôi còn nhớ:
Trong hội mùa xuân
người theo ngọn lá
màu xanh đang ngần
...Trời ơi bao la
màu người màu gió
tà áo hoa lý
bao lưng hoa đào
nón em nghiêng vậy
anh về làm sao ?....
Sau lần đó, rất lâu không thấy Vũ Từ Trang quay lại Quảng Ninh, mặc dù thơ anh vẫn đăng tải đều kì trên các báo. Hỏi ra mới biết từ sau ngày Giải phóng miền Nam, anh chuyển sang làm báo Tiểu thủ công nghiệp, chuyên theo dõi sự phát triển của các làng nghề trong cả nước. Tại đây, bên cạnh việc làm báo, anh đã tích lũy được khá nhiều vốn hiểu biết về các nghề thủ công của nước ta để rồi sau đó không lâu, cho ra đời cuốn sách khảo cứu: “Nghề cổ đất Việt” dày trên 600 trang. Trong đó, anh phân tích khá tỉ mỉ về sự hình thành và phát triển của mấy trăm loại nghề truyền thống, từ nghề gốm, nghề rèn, nghề đúc đồng, đan mây, tre, làm cối xay, cối giã cho đến các nghề tinh sảo hơn như chạm vàng chạm bạc... Đọc cuốn sách này, điều dễ thấy ngay, là mình được trang bị một vốn văn hóa dân gian rất lớn. Lý thú hơn là xen kẽ trong việc mô tả những cách thức làm nghề được hoàn thiện dần trong lao động sáng tạo của dân ta, là những nét đẹp của những làng quê ở khắp các vùng miền được hiện lên qua những câu chuyện kể đầy hấp dẫn của các nhân vật mà tác giả từng gặp gỡ trong quá trình tìm hiểu. Riêng tôi, khi đọc xong cuốn khảo cứu này, tôi ngộ ra một điều, chẳng biết có đúng không, nhưng rất thú: “Ngẫm lại cái thời văn bất phân sử bất phân cũng có cái hay của nó. Như cuốn ghi chép này ai không bảo là văn? Thậm chí nó còn cuốn hút mình hơn cả những cuốn tiểu thuyết mà bạn bè vẫn tặng. Thì ra cái hay của văn không phải là viết thể loại gì mà là viết thế nào...”.
Một điều nữa không kém phần lý thú là qua cuốn này, tôi cũng hiểu thêm một điều rằng đây chính là cái nguyên cớ khiến Vũ Từ Trang, khi có cơ hội, đã bắt tay vào khởi nghiệp kinh doanh, bởi ngoài cái tài làm báo, làm thơ, viết sách, anh còn có một năng lực quan trọng khác, đó là cái tài tổ chức của một người đứng đầu doanh nghiệp, dù là doanh nghiệp lớn, vừa hay nhỏ, tùy theo điều kiện cụ thể của gia đình.
Bởi thế, khi Vũ Từ Trang chữa điện xong, quay vào kéo tôi lên gác, rẽ sang một căn phòng nhỏ được xem là phòng viết của anh, tôi hỏi luôn điều mình quan tâm nhất:
- Giữa việc kinh doanh và sáng tác, anh thấy có điều gì vướng nhau không?
Vũ Từ trang lắc đầu:
- Cần sự sắp xếp công việc cho hợp lý. Chỉ thấy bận thôi. Mà không hiểu sao càng bận, tôi lại càng viết khỏe.
- Lại vẫn có thì giờ đánh xe đưa bạn bè du hí đó đây nữa chứ?
- Đôi khi có thế thật. Là người cầm bút, thì ai chả muốn đi đây đi đó, để thu vào mắt mọi vẻ đẹp trong thên hạ. Nhất là lại đi cùng bạn viết mà mình tâm đắc.
- Trong giới viết chúng ta, anh sướng nhất còn gì?
- Sướng gì đâu. Bù đầu lo việc sản xuất. Rồi lại cắm mặt vào trang viết. Chỉ sướng khi viết ra được con chữ thật mình. Mà điều này phải phấn đấu suốt đời, ông ạ !
“Tôi muốn nói cái sự sướng này với nghĩa khác cơ.” - Tôi định nói với Vũ Từ Trang như vậy, song lại thôi. Có lẽ vì thế mà cái ý nghĩ ấy cứ bám riết tôi cho đến lúc ra về. Và giờ đây, khi viết những dòng này, nó lại hiện trong tâm trí tôi rất rõ: “Một tay lo cuộc sống, một tay ghi dấu ấn cuộc đời qua những gì mình thấy, mình cảm nhận và mình thích, hoàn toàn không lệ thuộc gì và lệ thuộc vào ai, chẳng phải trông chờ ai tài trợ hay mấy đồng nhuận bút còm. Phải chăng người cầm bút thời nay, cái mà người ta vẫn gọi là thời A còng, là như vậy? Và rất cần như vậy?”.
Hà Nội hè 2010
B.V
Nguon theo hoinhavanvn