LÂM XUÂN VI
Con tim nặng nghĩa đa tình
(Cảm nhận bài thơ Tự thú của nhà thơ Kim Chuông)
Tự thú
Tôi mang nợ chút nắng trời
Vùi trong hạt thóc vàng nơi đồng nhà
Chín mươi tư tuổi mẹ già
Tôi đi bỏ đất làng. Và em yêu
Nợ quê một mái tranh nghèo
Nợ mưa nợ gió những chiều… thương nhau
Cha tôi mười sáu tuổi đầu
Mở trường dạy chữ nho, cầu hiền nhân
Tôi mê kinh nghĩa lần lần
Đời tôi nợ nhịp nợ vần câu thơ
Nợ người dứt ruột vương tơ
Nợ ai đắp đập, be bờ sông trôi
Nợ tình giàu lắm buồn vui
Con tim nặng nghĩa còn nuôi nợ nần.
Kim Chuông!
Lời bình của Lâm Xuân Vi
Kim Chuông là một nhà thơ thành danh khá sớm, người đôn hậu chân thành, có nụ cười cởi mở rất duyên và thật dễ tin cậy.
Trời phú cho Người, rất điển trai, thơ tình hay, thuở còn trẻ các cô gái đã đọc thơ Kim Chuông, rồi được gặp anh thì dễ mềm lòng. Người ta bảo thi sỹ này có số Đào Hồng cư thân, mệnh.
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, anh ở Hội văn học nghệ thuật Thái Bình, còn tôi ở ngành Thuỷ lợi Ninh Bình, xa nhau về địa lý, khác nhau về nghề nghiệp, nhưng nhờ cùng chung nhóm máu “thơ”nên khi tình cờ gặp nhau là thân tình ngay. Từ ngày thân thiết nhau, anh đã gieo trong tôi những kỷ niệm không thể phai mờ.
Đầu những năm 80 thế kỷ trước, việc in ấn đâu có dễ, Kim Chuông đã lo in cho tôi tập thơ tại xí nghiệp in Thái Bình, rồi sau này còn sang tận Ninh Bình làm chủ hôn đám cưới cho con trai tôi.
Nói thế để biết mức độ thân tình và tin cậy giữa chúng tôi. Kim Chuông tâm sự và sẻ chia với tôi nhiều điều. Nhưng có lẽ nỗi day dứt thường trực trong anh là điều phải xa những người thân, xa Vĩnh Bảo - Hải Phòng quê hương thân yêu của anh.
Bài thơ Tự thú, là một minh chứng cho tấm lòng hiếu thuận của nhà thơ Kim Chuông đối với cha mẹ, người thân và quê hương mình.
Tự thú, hay tự thán với Kim Chuông có lẽ chỉ là một. Đọc những câu lục bát tinh tế cảm thấu nỗi xót xa, mà vẫn thấy dịu nhẹ, thấm lắng óng mượt như nhung: Tôi mang nợ chút nắng trời/ Vùi trong hạt thóc vàng nơi đồng nhà. Rồi đến cả những điều hệ trọng cũng được nhà thơ thổ lộ bằng bút pháp chân thành, thật giản dị và đôn hậu đến rưng rưng: Chín mươi tư tuổi mẹ gìa/ Tôi đi bỏ đất làng. Và em yêu. Bỏ đất bỏ làng, bỏ"mẹ già như chuối chín cây...", mà đi thì thật tội tình, có lẽ cách biểu đạt không chút hoa mỹ trong văn cảnh này, lại là sự thốt gọi thống thiết để bạn đọc đồng cảm chia sẻ cùng anh. Chữ Và (viết hoa) sau dấu chấm giữa câu tám thể hiện người viết lục bát thật diệu nghệ, nó không chỉ giữ được tính khe khắt niêm luật lục bát, mà còn là một liên từ rất đắc địa làm cho câu thơ vốn có sức nặng, càng trở nên sâu sắc thấm thía hơn. Đã phải bỏ mẹ già trăm tuổi, lại bỏ cả người yêu mà đi thì còn xa xót nào hơn? Nhà thơ có lỗi, mà lỗi không hề nhỏ, nhưng với lối tự thán, ăn năn này thì chắc người yêu, quê hương và tấm lòng người mẹ nhân hậu nào chả rộng lựợng tha thứ cho anh
Tiếp nối liền mạch sự xúc động đến se thắt, mà nhà thơ có dịp bộc bạch giãi bày, thấm thía với truyền thống Nho học, nhân văn của người cha kính yêu và nền nếp giáo lý gia đình anh.
Có lẽ, chính ngay từ buổi thiếu thời, cụ thân sinh đã mở lớp dạy chữ, cầu hiền nhân, chẳng những đã sớm có ảnh hưởng tích cực hình thành nhân cách cho nhà thơ, mà còn để lại phúc đức, linh hướng dẫn dắt anh lập nghiệp, lập thân: Tôi mê kinh nghĩa lần lần/ Đời tôi nợ nhịp nợ vần câu thơ. Như vậy, nghiệp thơ của Kim Chuông đâu chỉ là thiên mệnh, mà anh đã được người cha kính yêu bẻ ghi, nâng đỡ từ những bước đầu đời.
Càng đi sâu vào thế giới chữ nghĩa thâm hậu, Kim Chuông càng thấm thía mang nặng công ơn.
Ơn: trời đất, nắng mưa, quê hương, cha mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng anh.
Ơn nghĩa đã kết tinh nơi anh một trái tim nhân hậu, đa cảm, đa tình để một đời mắc nợ.
Nợ đời, nợ nhân nghĩa, là những món nợ không sao trả hết.
Lâm Xuân Vi
Ninh Bình, ngày 01 - 6 - 2010
|